trang

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

Những Bà Mẹ


Hồi nhỏ, khi ở tiểu học, có lần tôi được thầy dạy một bài học thuộc lòng như sau :

 

Đêm khuya giấc điệp mơ màng
Kìa ai săn sóc bên giường của tôi
Giấc sinh chợt tỉnh bồi hồi
Kìa ai bế ẵm kìa ai dỗ dành
ấy là công mẹ sinh thành
Làm con phải hiểu phân mình làm sao!


   Lúc đó tôi còn ít tuổi nên học cho thuộc bài này cũng rất khó khăn. Tôi chỉ cố công học thuộc để lên trả bài lấy điểm, nhưng tôi không hiểu gì về những ý ẩn chứa trong những câu thơ lục bát này. Tôi mơ hồ hiểu đây là một bài thơ ca ngợi mẹ của mình, người mẹ sớm tối vì con, lo cho con từng miếng ăn giấc ngủ.... Thế nhưng, khi tôi đã trưởng thành, có gia đình tôi mới thấy hết được cái ý nghĩa của tình mẹ đối với con như thế nào. Hèn chi trong tục ngữ ca dao Viet Nam ta cũng đã có mấy câu:

Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ!

   Tôi thấy người Việt Nam thường ít khi bày tỏ tình thương mẹ theo kiểu người Tây phương. Thậm chí cũng chẳng bao giờ ngó ngàng gì đến sức khoẻ hay để ý đến mẹ mình muốn ăn gì, thèm thứ gì và cũng ít khi quà cáp cho mẹ khi đi xa về. Thường thì chỉ mua quà cho vợ, cho chồng, cho con mà quên bẵng rằng mẹ mình cũng cần an ủi...

    Càng lớn, tôi càng thấm thía và mới thấy được những suy nghĩ của người lớn tuổi. Đời người được biểu diễn bằng một đường parapol, giống như một ngọn đồi, mới sanh ra là bắt đầu leo lên đồi. Đến nửa cuộc đời là đến đỉnh đồi. Từ đó là ta bắt đầu xuống dốc phía bên kia ngọn đồi. Gần cuối con dốc đó là tuổi già. Những ý nghĩ thèm muốn giống như con nít, cho nên mới có câu "Người già bằng con nít" là vậy.

   Khi người mẹ già thấy con mình đi đâu về mà có món quà nhỏ, tuy chỉ là cái bánh ngọt hay vài trái cây tươi cho mẹ... Người mẹ sẽ vui sướng như đứa trẻ được quà! Cái tâm lý đó khi còn trẻ ít ai tưởng đến cả! Bây giờ mẹ tôi đã không còn nữa, tôi mới thấy hết được, cảm hết được những nghẹn ngào! Ai cũng có một người mẹ và chỉ biết có mẹ mình lo cho mình mà mà không, hay ít khi lo ngược lại. Ông cha ta thường nói, " giọt nước chảy xuống thì tình thương cũng chỉ từ trên nhỏ xuống mà thôi". Điều này là quý luật của cuộc đời. Khi có thai, mang nặng chín tháng mười ngày rồi sinh con, cho con bú, canh giấc ngủ cho con, lo lắng cho con khi ốm gió trở trời, ôm con vào lòng dỗ dành từng giấc ngủ... Thì chừng đó ta mới cảm nhận được mẹ của ta như thế nào. Tình thương tuy cứ ban phát xuống dần, nhưng nó vòng vòng trong một hành trình đầy lòng thương yêu, chỉ có người nào đã làm mẹ mới cảm nhận được một cách tuyệt đối!

   Nhân ngày lễ Vu Lan, tôi xin được nói với những người đang còn mẹ và hạnh phúc hơn nữa là đang được gần mẹ: " Chẳng có gì quý giá hơn khi mình đang có một người đàn bà hy sinh cả cuộc đời cho mình, không đòi hỏi phải đền bù, phải trả công lao. Hãy trân trọng và giữ gìn một món quà trân quý ấy, vì nó có thể vuột khỏi tay bạn bất cứ lúc nào." Đối với những ai còn đang phải bôn ba lưu đày: " Cứ nghĩ rằng mình là những người con bất hiếu cho dù bạn đang làm đầy đủ bổn phận về tài chánh cho những người thân ở quê nhà! Hãy nhìn lại mình và hy vọng một ngày không xa sẽ về ôm hôn mẹ, xiết thật chặt như ước mơ của nhiều ngươi! "
Xin gởi đến các bạn một bài hát về mẹ mà tôi phải rơi những giọt nước mắt mỗi khi nghe lại ...

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Chữ hiếu trong đạo Phật


11/08/2011 15:54 (GMT+7)

Mùa Vu lan lại trở về, gợi nhắc chúng ta nhớ đến tình thương vô bờ bến của cha mẹ đã dành cho mình. Và đối với người Việt Nam, hiếu thảo là truyền thống quý báu được đặt lên hàng đầu. Tất cả chúng ta đều nhớ như in bài học vỡ lòng đã được dạy dỗ từ tấm bé:


Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. 
Một lòng thờ mẹ kính cha. 
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Hoặc những câu ca dao Việt Nam cũng nhắc đến bổn phận hiếu thảo của người con:

Cha sinh mẹ dưỡng
Đức cù lao lấy lượng nào đong
Thờ cha mẹ phải hết lòng, 
Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường. 
Hay:
Hai tay bưng bát cơm đầy
Nhớ công cha mẹ 
tháng ngày gầy nên.

Duc But thuyet phap.jpg
Đức Phật thuyết pháp cho Ngài Tịnh Phạn Vương - Tranh PG

Và chính Đức Phật cũng khẳng định vai trò tối ưu của cha mẹ đối với con cái qua lời dạy rằng tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, cha mẹ tại tiền như Phật tại thế. Đức Phật cũng đã so sánh thâm ơn dưỡng dục của cha mẹ sâu dày đến mức độ: Dù hai vai cõng cha mẹ đi giáp vòng hòn núi Tu Di, trải qua trăm ngàn kiếp cũng chưa đền đáp được ơn đức của cha mẹ.
Là đệ tử Phật, với nhận thức sâu sắc về công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ vô bờ bến, chúng ta phải thể hiện thành việc vui vẻ phụng dưỡng cha mẹ. Chăm lo cho cha mẹ bằng tất cả niềm thương yêu tôn kính mới thể hiện đúng nghĩa hiếu hạnh theo tinh thần Phật dạy, chứ không phải chỉ nấu cho xong bát cơm chén cháo cho cha mẹ là đủ. Đối với những người con vì hoàn cảnh phải sống xa cha mẹ, không được trực tiếp chăm sóc cha mẹ, thì cũng phải có tâm hiếu là nhớ nghĩ đến cha mẹ và phụng dưỡng cha mẹ bằng tiền bạc, chỗ ở, thuốc men, v.v...
Đặc biệt là theo Phật dạy, nếu cha mẹ chúng ta vắng bóng trên cuộc đời, chúng ta vẫn có thể báo hiếu. Thật vậy, khi Phật tại thế, trong thiền định, Ngài Xá Lợi Phất đã thấy một ngạ quỷ đến nói rằng năm đời trước, nó là mẹ của Ngài. Xin Ngài cứu độ nó bằng cách cúng dường Đức Phật và 1.250 vị Thánh Tăng. 

Sau buổi lễ trai tăng cúng dường, đêm hôm đó, một vị Thiên tử trên trời báo cho Ngài Mục Kiền Liên biết rằng nhờ lực chú nguyện của Phật và Thánh chúng mà bà mẹ của Ngài Xá Lợi Phất đã được sanh về cõi Trời. Đây là câu chuyện ghi trong Tiểu Bộ kinh, tập truyện Ngạ quỷ. Câu chuyện này tương ưng với chuyện mẹ của Ngài Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề trong kinh Vu Lan Bồn cũng nương nhờ công đức của Phật và Thánh Tăng mà thoát khỏi kiếp ngạ quỷ và sanh lên cõi trời.
Đức Phật dạy chúng ta tâm hiếu, hạnh hiếu và Ngài đã thể hiện điều này một cách sâu sắc nhất trong cuộc đời Ngài. Đức Phật nói: “Này A Nan, việc hiếu không phải ta không làm. Lúc ta thành đạo, về thăm hoàng cung, ta đã thuyết pháp cho hoàng cung nghe. Và vua Tịnh Phạn đã chứng quả Tu đà hoàn, bà Ma ha Ba Xà Ba Đề đã quy y Tam bảo. Như vậy, hạnh hiếu ta đã đền xong”.
Tấm gương sáng của Đức Phật về hạnh hiếu nói trên là bài học thiết yếu giúp chúng ta nhận ra phương cách báo hiếu tốt nhất đối với cha mẹ mình. Thật vậy, nếu cha mẹ còn hiện tiền, chúng ta nên tìm cách cho cha mẹ được quy y Tam bảo, kính tín Tam bảo là chúng ta đã giúp cho cha mẹ thoát khỏi ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. 

Ngoài ra, cha mẹ đã quy y Tam bảo, chúng ta nên thường xuyên nhắc nhở cha mẹ không làm việc ác, tạo điều kiện cho cha mẹ làm việc thiện, nhất là hỗ trợ cha mẹ trong việc thường xuyên nghe pháp, cúng dường, tụng kinh, niệm Phật, v.v…

Tóm lại, trong bốn ơn lớn, ơn cha mẹ được Đức Phật nhắc đến rất nhiều. Vì vậy, khi nào chúng ta còn nghĩ tưởng đến công ơn cha mẹ, còn thực hiện hiếu hạnh là chúng ta đang thể hiện sự biết ơn và báo ơn, tức là đang làm việc thiện trên cuộc đời này và đang tạo nhân lành cho phước lạc vô biên là đang ở gần Phật. 

Và Đức Phật cũng dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, nếu một người biết ơn và đền ơn, thì dù sống xa Ta ngàn dặm vẫn như đang ở bên cạnh Ta. Còn người không biết ơn và không đền ơn, thì dù ở bên cạnh Ta cũng giống như cách xa Ta ngàn dặm”.
HT.Thích Trí Quảng  (Nguyệt san Giác Ngộ số 185 - Vu lan 2011)

Nguồn gốc lễ Vu Lan


Thứ năm - 11/08/2011 11:13


Rằm Tháng 7- ngày lễ của người Việt được giới tăng ni Phật tử gọi là ngày Đại Lễ Vu Lan, dịp đặc biệt để con cái báo hiếu các bậc sinh thành, tổ tiên đã khuất. Theo tín ngưỡng dân gian, rằm tháng Bảy cũng là ngày xá tội vong nhân, các nhà bày mâm cỗ cúng chúng sinh....
 
1. Theo sự tích xưa, Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.
 
Sau khi đã chứng quả A La Hán, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng huệ nhãn tìm. Thấy mẹ vì gây nhiều nghiệp ác nên rơi vào ngục A Tỳ làm quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.Quá thương cảm, xót xa Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát". 
 
Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.
 
Và thế là mỗi năm khi ngày này đến gần, những người phụ nữ trong gia đình lại bận rộn hơn với công việc chuẩn bị cúng rằm nhớ ơn tổ tiên, lên chùa khấn cầu Phật phù hộ cho gia đình, cha mẹ được bình an phúc đức, tất bật chuẩn bị những mâm lễ cúng chúng sinh. (VNN).
 
2. TheoPhật Quang Đại từ điển, mục từ: Vu Lan Bồn. Phạm: Ullalambana. Cũng gọi: Ô lam bà noa. Chữ Hán dịch là Đảo huyền. Cũng gọi là Vu lan bồn hội, Bồn hội. Chỉ cho nghi thức cầu siêu độ cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thân thuộc nhiều đời, được cử hành vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch hàng năm căn cứ theo lời Phật dạy trong kinh Vu lan bồn tạo các khu vực theo Phật giáo thuộc hệ thống Hán ngữ.
 
Vu lan bồn là dịch âm từ chữ Phạm Avalambana (Đảo huyền = treo ngược), ví như nỗi khổ của người chết giống như cái khổ của người bị treo ngược, cực kỳ đau đớn. (...)
 
Theo Kinh Vu Lan bồn, đệ tử Phật là ngài Mục Liên dùng thiên nhãn trông thấy thân mẫu bị đọa vào đường quỷ đói, gầy ốm chỉ còn da bọc xương, ngày đêm khổ não liên tục, thấy rồi, ngài Mục liên dùng bát đựng cơm đưa đến dâng cho mẹ, nhưng do chịu quả báo của nghiệp ác nên cơm biến thành lửa. Để cứu mẹ thoát khỏi nghiệp khổ này, ngài Mục liên bèn xin đức Phật chỉ dạy cách giải cứu, Phật liền dạy ngài Mục liên vào ngày rằm tháng 7 là ngày chư tăng tự tứ (kết thúc hạ an cư) , dùng thức ăn uông đựng trong bồn Vu Lan cúng dường Tam bảo sẽ được vô lượng công đức, cứu được cha mẹ 7 đời. ..
 
Còn theo Kinh Đại bồn tịnh độ thì vua Bình sa, cư sĩ Tu đạt, phu nhân Mạt lợi ...y theo phương pháp của ngài Mục liên là 500 bồn vàng đựng thức ăn dâng cứng đức Phật và chúng tăng để cầu diệt trừ tội nghiệp của cha mẹ 7 đời.
 
Tại Trung Quốc, theo truyền thuyết, vua Vũ đế nhà Lương là người đầu tiên cử hành hội Vu Lan bồn. (Trích: Phật Quang Đại từ điển, tập 6 do Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, trang 7241- 7242).
 
3. Theo Từ điển Văn hóa cổ truyền Việt Nam, mục từ Vu Lan (lễ)(Phật giáo).
 
Vu Lan (bồn) là cái chậu đựng hoa quả, phẩm vật dâng cúng. Lễ Vu Lan cử hành vào rằm tháng Bảy âm lịch hàng năm, là lễ dâng các phẩm vật cúng chư tăng đựng trong chiếc Vu Lan cầu xin cho vong hồn người thân thoát khỏi nơi địa ngục. Rằm tháng 7 âm lịch gọi là ngàu vong nhân xá tooijm nghĩa là dưới âm phủ, ngày hôm ấy các vong hồn được tha tội. Bởi vậy đốt vàng mã cúng gia tiên.
 
(Trích Từ điển Văn hóa cổ truyền Việt Nam. Hữu Ngọc chủ biên. 
Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002, trang 750).
 
Đọc thêm:
Gương hiếu hạnh của Đức Mục Kiền Liên
 
Hôm nay là ngày Lễ Vu Lan, 15 tháng bảy âm lịch theo Phật giáo Việt Nam, thokao trích bài "Gương hiếu hạnh Đức Mục Kiền Liên" của Hòa thượng THÍCH THANH TỪ để mọi người cùng đọc.
 
Ngày lễ này có ý nghĩa rất lớn vì đây là ngày Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ thoát khỏi khổ hình trong địa ngục. Tại sao Ngài Mục Kiền Liên là vị đệ tử của Phật, cũng như bao nhiêu vị A la hán khác nhưng chúng ta lại đặt quan trọng? Bởi vì người Việt Nam lâu nay nặng về chữ Hiếu, tổ tiên ông bà cha mẹ đều lấy chữ Hiếu làm đầu. Gương của ngài Mục Kiền Liên là một gương sáng nói lên lòng hiếu thảo của người con đối với cha mẹ, nên rất thích hợp với Phật giáo Việt Nam.
Cho nên Phật giáo nước ta xem ngày Lễ Vu lan rất quan trọng, để nhắc nhở tất cả Phật tử đều ý thức ngày lễ này là một hình ảnh đẹp, là một tấm gương sáng ngời, chúng ta phải hằng nhớ hằng biết, chớ không thể lơ là được. Người Việt Nam mình tôn trọng chữ Hiếu làm đầu, điều này có sai lệch không? Chắc là không. Bởi vì ai cũng thấy rõ, chúng ta nhờ thừa hưởng sự trao truyền từ cha mẹ mà mình có hình hài, có thân thể này. Sự trao truyền đó là huyết thống, chớ không phải chuyện ở bên ngoài. Cho nên mọi hay dở tốt xấu của chúng ta là niềm vui buồn hay đau khổ của cha mẹ. Bổn phận làm con không bao giờ quên ơn cha mẹ, bởi vì thâm ân đó không thể nào chối cãi, không thể nào từ bỏ được.
 
Người nào thấy cha mẹ già có vẻ lẩm cẩm một chút mà xem thường cha mẹ là có lỗi lớn. Dù cha mẹ lẩm cẩm bao nhiêu đi nữa, nhưng chúng ta cũng nhớ rằng bản thân mình là một phần của thân thể cha mẹ, không thể tách rời, không thể đứng riêng, dù muốn chối bỏ cũng không chối bỏ được. Thân này đã là của cha mẹ mà mình phụ rẫy, vong ân thì điều đó thật vô nghĩa, không xứng đáng là một con người. Do đó lòng hiếu thảo đối với chúng ta là một chân lý. Trên thế gian này không có ân nào quý trọng và cao cả bằng ân cha mẹ. Nếu ân cao cả như vậy mà chúng ta quên đi thì những ân thường trong xã hội, ân của bạn bè giúp đỡ, chúng ta làm gì biết ơn và đền ơn.
 
Như vậy muốn thành người tốt, có đạo đức, trước tiên phải là người con hiếu thảo. Người Phật tử không phải tu theo Phật để chỉ cầu giải thoát sanh tử thôi, mà còn tu trong bổn phận làm người, trong đó cha mẹ là trên hết. Đối với cha mẹ mà quên thì cầu thành Phật, cầu giải thoát, e rằng chưa được. Vì sao? Vì ngài Mục Kiền Liên đã chứng A la hán rồi mà còn chưa quên công ơn của mẹ, huống nữa chúng ta là phàm Tăng phàm Ni, lại không nhớ không kể gì đến ân cha mẹ, đó là một điều thiếu sót không thể chấp nhận được.
 
Vì vậy ngày Lễ Vu lan vừa là lễ Phật, lễ Bồ tát, lễ A la hán tức ngài Mục Kiền Liên, mà cũng là một ngày gợi nhắc lại cho chúng ta tinh thần cao đẹp của tổ tiên mình. Chúng ta phải nhớ ngày Lễ Vu lan có ý nghĩa trọng đại như thế, chớ không phải tới ngày này chỉ cầu nguyện cho ông bà siêu sanh Tịnh độ thôi, mà chúng ta luôn nghĩ tới bổn phận làm con đối với cha mẹ. Nghĩ đến tình thương cha mẹ đối với chúng ta như thế nào để cố gắng tu hành, cố gắng đền trả công ơn lớn lao của cha mẹ. Như vậy mới xứng đáng là người con Phật, cũng xứng đáng là người Phật tử Việt Nam.
 
Nhiều người đặt câu hỏi, tại sao ngài Mục Kiền Liên đã tu chứng lục thông, có thể đến được chỗ của mẹ ở trong cõi ngạ quỷ đói khát, mà không dùng thần thông cõng mẹ chạy lên cõi Trời cho sung sướng? Tại sao thấy cảnh mẹ khổ rồi khóc trở về, không làm gì được? Đó là một vấn đề cần phải hiểu rõ. Trong nhà Phật có câu “Thần thông bất năng địch nghiệp”, nghĩa là thần thông không thể diệt được định nghiệp. Nghiệp đã nhất định rồi, dù có thần thông cũng không đổi dời được.
 
Như trường hợp Đức Phật khi đã đắc quả rồi, dòng họ Thích bị vua Lưu Ly cử binh sang đánh. Đức Phật nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, cuối cùng Phật cũng đành chịu để vua Lưu Ly chém giết dòng họ Thích Ca. Như vậy để thấy khi định nghiệp có rồi thì khó cải đổi được. Đức Phật không cứu được dòng họ cũng như ngài Mục Kiền Liên không cứu được mẹ, dù là có thần thông. Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy rõ thần thông không chuyển được định nghiệp của người khác.
 
Trong nhà thiền thì xem thường thần thông lắm. Như tổ Hoàng Bá ở Trung Hoa, ngài lên núi Thiên Thai vào mùa mưa, khi xuống núi gặp một vị Tăng, cả hai kết bạn cùng đi. Đi một đỗi gặp dòng suối lớn, nước chảy mạnh, đằng xa có một con thuyền. Vị Tăng cùng đi bảo “huynh đi qua đi”, ngài Hoàng Bá nói “huynh qua được thì cứ qua trước”. Vị Tăng nọ liền vén áo, đi thật nhanh trên mặt nước qua bờ bên kia. Ngài Hoàng Bá dùng thuyền qua sau. Đến bờ bên kia, người bạn đồng hành cười ra vẻ xem thường ngài không có thần thông.
 
Ngài hỏi: - Huynh tập bao lâu mới được thần thông?
 
Đáp: - Ba mươi năm.
 
Ngài Hoàng Bá nói: - Công của huynh tập ba mươi năm, giá đáng hai xu thôi.
 
Vì bỏ ra ba mươi năm để có thần thông đi qua dòng suối, trong khi thiền sư chỉ cần tốn hai xu qua đò là xong. Nên ngài nói công tập ba mươi năm chỉ đáng giá hai xu! Như vậy để chúng ta hiểu đạo Phật trọng tu hành chuyển nghiệp hơn là thần thông. Bởi vì nghiệp mình tạo sẽ chuốc quả khổ, người khác có thần thông không cứu được. Muốn hết nghiệp phải chuyển từ lúc ban đầu, chớ không phải luyện tập thần thông mà được.
 
Nghiệp của bà Thanh Đề, mẹ ngài Mục Kiền Liên là nghiệp gì? Bỏn xẻn là một phần nhỏ, lớn hơn là lòng hiểm ác. Từ nghiệp hiểm ác bỏn sẻn mà đọa vào kiếp ngạ quỷ, làm quỷ đói. Đã đọa rồi thì phải chịu quả, dù con mình có thần thông cũng không cứu được. Cho nên biết thần thông không chuyển được nghiệp, chỉ tu mới chuyển được thôi. Đó là giải đáp thắc mắc về vấn đề thần thông.
 
Còn một vấn đề nữa, sau khi ngài Mục Kiền Liên về, trình lên Phật nỗi đau khổ vì thấy mẹ đói, Ngài đem cơm cho mẹ ăn mà bà ăn không được. Ngài muốn cứu mẹ, không làm sao cứu được. Phật mới dạy Tôn giả thỉnh chư Tăng cầu nguyện cho mẹ Ngài chuyển kiếp ngạ quỷ. Sau khi tổ chức Lễ Vu lan rồi, chư Tăng thọ trai xong, đồng thời nguyện cầu cho bà chuyển được tâm niệm ác độc trở thành tâm niệm lương thiện. Nương nơi sức cầu nguyện của chư Thánh tăng, bà chuyển được tâm xấu ác thành tâm thiện lành, liền sanh lên cõi Trời. Nhân đó, người ta đặt câu hỏi đạo Phật nói nhân quả, tạo nhân nào thì chịu quả nấy, tại sao cầu nguyện liền mất hết quả cũ. Như vậy lý nhân quả nằm ở chỗ nào? Đó là một vấn đề.
 
Quý Phật tử nên biết không phải chư Tăng tụng kinh cầu nguyện, liền đó bà Thanh Đề được sanh về cõi Trời. Hương linh của người chết đọa vào kiếp ngạ quỷ, họ sống, họ ăn bằng cái tưởng. Chúng ta cúng cô hồn gồm muối, gạo, cơm cháo…, cúng rồi còn hay hết, cúng rồi còn nguyên. Như vậy rõ ràng do tâm tưởng, họ ăn được no. Họ ăn bằng cái tưởng nên họ sống bằng tâm tưởng nhiều hơn sống bằng cái thực. Vì thể xác của họ không nặng nề như mình, mà nhẹ nhàng như bóng như gió vậy. Do sống bằng tâm tưởng nên khi chuyển tâm tưởng lại thì liền đó thoát khổ. Khi chư Tăng nguyện lành cho bà, bà thức tỉnh chuyển tâm hiểm ác keo kiệt trở thành tâm lương thiện, liền sanh cõi Trời. Như vậy không phải chư Tăng có khả năng đưa bà lên cõi Trời, mà do bà chuyển được tâm niệm nên sanh về cõi Trời.
 
Lúc trước bà chết, tâm hiểm ác keo kiệt dẫn bà đi vào cõi Ngạ quỷ. Thế thì quý Phật tử nhất là những vị lớn tuổi cần phải đề phòng. Chúng ta khi ra đi sẽ theo tâm tưởng mà thác sanh. Tưởng lành tưởng ác sẽ dẫn mình đi vào đường lành đường ác. Do đó nhà chùa hay tổ chức lễ cầu nguyện cho người sắp lâm chung, chư Tăng chư Ni hoặc huynh đệ Phật tử tới hộ niệm để làm gì? Bởi vì khi chúng ta sắp xả thân, thể xác này đau đớn khổ sở vô kể, vì lo đau đớn nên quên niệm lành. Bây giờ muốn được niệm lành phải có sự trợ lực của chư Tăng chư Ni hoặc huynh đệ, cùng đọc lên những lời dạy của Phật tức là đọc kinh, để mình nhớ lại Phật mà quên những niệm xấu. Nhờ nhớ Phật, quên niệm xấu nên nhắm mắt mình đi đường lành. Đó là ý nghĩa quan trọng của người trợ niệm.
 
Chúng ta khi còn khỏe mạnh tỉnh táo nghĩ tới điều lành, nghĩ tới lời Phật dạy không khó. Nhưng lúc đau đớn khổ sở, thân thể bức ngặt quá, thật là khó nhớ. Cho nên bây giờ chúng ta ráng tu, ráng gìn giữ tâm tư trong sáng. Những tâm tư trong sáng đó giúp mình khi bức bách không bị quên, không bị xao lãng, nếu không tu như vậy tới chừng đó chúng ta không thể chuyển kịp. Nhiều người khi sống cũng làm đôi ba việc thiện, nhưng khi chết đau khổ quá, ai làm trái ý liền nổi giận lên. Chính cái giận đó sẽ dẫn họ đi vào đường ác, gọi là cận tử nghiệp, cái đó hết sức hệ trọng. Quý Phật tử nghĩ đến sự tu thì ráng tập tâm tư của mình luôn luôn trong sáng. Khi gần nhắm mắt được chư Tăng chư Ni hoặc các Phật tử giúp cho, mình cố gắng thêm quên cái đau đớn, chỉ nhớ Phật, đó là duyên tốt để đi đường lành. Người thân cũng nên nhớ đừng gây phiền hà buồn bực làm cho thần thức kẻ sắp lâm chung đi vào đường khổ.

Bởi vậy tinh thần hiếu thảo của Phật tử là phải quý trọng giờ lâm chung của cha mẹ, đem hết lòng thành kính thỉnh mời chư Tăng chư Ni tới để trợ lực giúp cho cha mẹ tỉnh táo, nhớ được điều lành. Đây là việc hết sức thiết yếu. Phật tử nhớ chúng ta tu là làm sao cho hiện đời được an lạc, khi nhắm mắt đi trên đường lành. Đó là người biết lo xa, chuẩn bị trước, không phải tu chỉ để được phước. Được phước mà tâm còn tối tăm, xấu xa thì phước chưa đủ để đưa mình tới chỗ lành.
 
Như chúng ta thấy có nhiều con chó sướng hơn con người, phải không? Nó được cưng được quý, trong khi nhiều con người sống lang thang rất khổ sở. Bây giờ đặt câu hỏi ngược lại, có phước mới được làm người, vô phước mới làm súc sanh, tại sao đã làm súc sanh mà sướng hơn người? Đó là một vấn đề chúng ta cần phải hiểu rõ. Bởi vì người vừa làm phước vừa tạo tội nên sanh có quả không cố định được. Ví như người đi ăn trộm được tiền nhiều, họ đem cúng chùa một phần, hưởng một phần. Như vậy một bên làm tội một bên làm phước. Có tội thì phải đọa, nhưng làm phước thì hưởng phước. Cho nên tuy tội đọa làm súc sanh mà vẫn hưởng được phước sung sướng. Phật tử tu làm sao để vừa được làm người, vừa có phước nữa, chớ đừng có phước mà không được làm người, uổng lắm. Hiểu rõ như vậy chúng ta sẽ không thắc mắc về thân phận và quả phước khác nhau của chúng sanh.
 
Quý vị tu hành không phải chỉ làm phước thôi mà ráng chuyển tâm của mình làm sao cho tốt, cho thanh tịnh sáng suốt. Đó mới là gốc của sự tu. Phước để bổ túc thêm khiến cho chúng ta có mặt ở đâu đều được an vui, sung sướng, dễ tu. Trong nhà Phật thường gọi là phước tuệ song tu. Tuệ là trí tuệ để chiếu soi làm cho xấu xa suy giảm, rồi sau đó tu phước nữa thì mới được hưởng đầy đủ. Đó là nói sơ lược qua về ý nghĩa của tinh thần kinh Vu Lan trong nhà Phật.
 
HT.THÍCH THANH TỪ
Nguồn Nhân ái club

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

chuyện nhỏ ở Sài Gòn



...
mấy chuyện lặt vặt, kể trong lúc quá bận

1.
Đó là một con hẻm khá rộng rãi ở giữa nhưng hai đầu  thì nhỏ xíu, chỉ chạy lọt chiếc xe máy, nối hai trục đường chính ở quận 3. Trong hẻm nhà cửa san sát, nhà mới xây cao 3~4 tầng cũng nhiều mà nhà cũ, mái tole gác gỗ cũng sin sít, nhiều nhà dùng phía trước để buôn bán nhỏ, bán đồ ăn hoặc tạp hóa, nhiều nhà mở tiệm gội đầu hoặc đặt biển công ty mà chẳng có nhân viên. Dân cư trong hẻm hầu hết đều biết nhau, cũng có một vài người mới dọn tới hoặc thuê nhà trong hẻm nhưng họ nhanh chóng làm quen với cư dân hẻm.
Bà chủ nhà trọ của tôi được gọi là cư dân lâu đời nhất của hẻm, hơn 60 năm. Bà là người cất nhà đầu tiên trên đất này. Bà kể, lúc bà vô Sài Gòn năm 16 tuổi, cả nhà bà đi trên một cái ghe. Lúc đó hẻm này, từ đầu đến cuối, là một con rạch rộng và sâu, bơi chừng vài chục sải mới sang bờ, tuy thông với nhiều rạch khác nhưng nước ở rạch này lại trong veo, đáy toàn cát. Bờ bên này, chỗ nhà trọ tôi ở, là một cái bến thuyền tấp nập suốt ngày đêm. Cha của bà đã dựng cái chòi đầu tiên trên bến, đúng chính chỗ căn nhà bây giờ, lúc đó ban đêm gió từ những con rạch thổi lồng lộng đến nỗi muốn cuốn bay mọi thứ.
Có nhiều sông rạch, nhiều đầm lác, nhiều rừng dừa nước đã biến mất, nhường chỗ cho phố xá và những con hẻm đầy nhà, đầy người, ở Sài Gòn.
2.
Ở một showroom sang trọng của một hãng xe hơi nổi tiếng mà giá của một chiếc xe nằm ngoài khả năng đếm của nhiều người, vào một buổi trưa trời nắng gắt bên ngoài nhưng bên trong vách kính thì mát lạnh. Anh nhân viên bán hàng mặc đồ vest với cà vạt và dày da bóng lộn đang ngồi xem tivi.
Có một cụ ông đi bộ ngoài đường mở cửa vào showroom. Trông ông có vẻ không được khá giả lắm, tuy cũng vận áo sơ mi ngắn tay cũ và một chiếc quần khaki ngả màu. Ông cụ bước vào, đảo mắt nhìn một lượt rồi chắp tay sau lưng đi đến những chiếc xe trưng bày và bắt đầu xem xét. Anh nhân viên bán hàng bật dậy đi theo cụ, anh đi nhẹ nhàng và tỏ vẻ lịch sự. Anh gọi cụ là ngoại. Ngoại ơi, ngoại à. Mỗi lần cụ dừng lại ở một chi tiết anh lại đề nghị được cho cụ xem rõ hơn, anh mở cửa trước, cửa sau, mở nắp capo để cho cụ xem. Khi cụ tỏ ý thắc mắc thì anh lại nhẹ nhàng giải thích với cụ, cụ già cứ gật gù lắng nghe nhưng có vẻ không hiểu mấy.
Đi chán cũng mỏi, anh bán hàng mời cụ già lại chỗ  sofa có cái bàn kiếng sạch bóng  và mời cụ dùng café, loại café đá pha sẵn thôi. Mãi sau cụ già nói với anh: qua thấy chỗ bán xe hơi này sang trọng quá, lại có máy lạnh nên qua vô xem chơi, chứ xe này cả dòng họ qua gom tiền lại cũng mua không nổi. Anh nhân viên vẫn rất lịch sự: dạ con biết, sẵn ngoại vô chơi thì con giới thiệu luôn để ngoại coi xe, đâu phải ai vô coi xe cũng mua đâu ngoại. Anh cười, coi bộ hiền khô.
3.
Một góc ngã tư giao lộ giữa hay con đường thuộc loại đông nhất nhì Sài Gòn, nơi thường xuyên bị kẹt xe, nhất là vào giờ cao điểm.  Bên cảnh sát giao thông phân công hai anh sĩ quan đến trực ở ngã tư này để giải quyết nạn ùn tắc và xử phạt mấy phương tiên chạy ẩu, nhất là mấy chiếc xe hơi rẽ trái sai luật.
Hai anh sĩ quan này có lẽ thuộc loại vất vả nhất trong ngành vì thời gian của hai anh hầu hết đều phải đứng ngoài nắng ngoài mưa để phân luồng và điều chỉnh đèn tín hiệu, chỉ cần hai anh vắng bóng một lúc là cái ngã tư lại nùi nùi một mớ xe cộ.
Chỗ hai anh đứng có một cái tủ điện chìm, lúc nào cũng có nước uống. Sáng thì café, nắng lên thì trà đá, chiều thì có nước đá chanh… Mỗi khi uống hết nước thì anh sĩ quan trẻ hơn băng qua đường đem trả những cái ly cho một quán cóc gần đó. Quán cóc vỉa hè nhưng lúc nào cũng có khách ngồi.
Lát sau bà chủ quán lại bưng qua một món thức uống mới, đúng lúc tôi đứng gần đó. Anh sĩ quan lớn tuổi hơn quay qua nói, hình như cốt để cho tôi nghe: bà này bả cho tụi tôi uống nước miễn phí cả tháng nay, nói hoài mà hông chịu cầm tiền, mơi không uống nữa nghen bà. Bà già cười lớn, ha hả, mấy chú làm việc cực khổ, tui đãi miếng nước, chuyện nhỏ xíu mà, mấy chú uống cho tui dzui.
4.
Dạo này Sài Gòn trời nắng gắt, đi ngoài đường hay thấy mấy thùng ghi “trà đá miễn phí”, ai muốn uống thì uống, dân xe ôm, xích lô là khoái dữ lắm, ghé uống ừng ực rồi cứ vậy đi, không cần phải cảm ơn.
Một lần ông xe ôm chở tôi xin phép tấp vô lê uống ly trà đá, tôi mới biết là có trà đá miễn phí. Đó là thùng trà đá miễn phí tôi thấy đầu tiên, nó ở gần bệnh viện 115, mặc dù nó không có bảng ghi “miễn phí”, chỉ thấy một thùng trà đá để ngoài đường, ai qua lại nếu biết cứ tự động rót mà uống. Uống hết có người ra châm trà, châm nước, bỏ đá vô.
Tôi hỏi ông xe ôm, trà đá miễn phí kiểu vầy có nhiều không chú. Ổng nói cũng nhiều, tùy mình biết chỗ mà ghé uống, trời nắng vầy có ly trà đã cũng đã lắm chú. Tui không phải nghèo đến mức cần phải uống trà đá miễn phí, tui uống bị thấy khoái vậy thôi.

5.
“Bây giờ cầm tờ báo lên là rầu, hết muốn coi báo” - Câu này của một đại gia Sài Gòn. Đại gia này có lẽ đã về hưu, con cái đã thành đạt lấy vợ lấy chồng ở riêng hết. Đại gia này thường hay ngồi ở quán café cóc của bà già ở mẩu chuyện số 3. Sáng nào cũng có mặt, dù nắng hay mưa.
Sáng nào đại gia cũng mua báo, chắc chắn là có Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Công An, Pháp Luật… thỉnh thoảng mua tờ tạp chí hoặc nguyệt san. Đại gia chỉ mua báo của hai người, một con bé và một thằng bé quen, bữa đứa này bữa sau đứa kia. Hai đứa trẻ bán báo không bao giờ cạnh tranh nhau quyết liệt hoặc tỏ ra giành mối, chúng vui vẻ cùng phục vụ một vị khách hàng. Đại gia mua rất nhiều nhật báo nhưng lúc ra về chỉ đi tay không.
Sau này, khi có dịp ngồi ở quán café cóc đó suốt một buổi sáng tôi mới biết. Nếu hôm đó đại gia mua báo của thằng bé, sau khi đọc xong ông sẽ gấp tờ báo lại như cũ và đem cho con bé đi bán tiếp và ngược lại, nếu mua của con bé thì ông sẽ đem cho thằng bé để nó đi bán cho người khác, tiền thì ông vẫn trả đủ.
Nguồn http://damhaphu.blogspot.com/2011/07/chuyen-nho-o-sai-gon.html

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

CHÂN DUNG ĐÔNG DƯƠNG Với 21 Bức Tranh Vẽ Của Jean Despujols

W. Robert Moore &
Maynard Owen Williams
 Ngô Bắc dịch

       Đối với Á Châu cổ xưa không yên nguôi, chiến tranh không có gì là mới lạ.  Ngày nay nó đang run sợ trước các lực lượng ghê gớm hơn bất kỳ sức mạnh nào khác kể từ khi các đoàn quân Mông Cổ tràn qua phần lớn lãnh địa của nó và phóng ngựa về phía tây vượt quá Mạc Tư Khoa.
       Đông Dương ngày nay, giống như Hàn Quốc, là một địa điểm xáo trộn.  Tại núi đồi Bắc Việt có sương mù che phủ, chất thành dẫy áp sát vào biên giới phía nam của Trung Hoa, giống như các đỉnh núi cheo leo được vẽ trong các bức tranh thời nhà Tống nổi tiếng, chiến sự đang diễn ra.
       Nơi đây các lực lượng bí mật của An Nam, cầm đầu bởi Hồ Chí Minh do Mạc Tư Khoa huấn luyện và mang các vũ khí được cung cấp bởi Cộng Sản Trung Hoa, đang thực hiện một chiến dịch du kích có tổ chức chống lại Pháp và chính phủ Việt Nam được thừa nhận (xem các trang 463, 487) [tất cả số trang trong bài theo nguyên bản, chú của người dịch].
       Các bản tin điện mang các địa danh nghe xa lạ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lộc Bình, và Lào Kay, bởi quân lính Pháp đồn trú tại Đông Dương đã bị buộc phải từ bỏ các tiền đồn bảo vệ các đèo núi hẹp trài ra như các ngón tay của lòng bàn tay phẳng, xòe ra từ châu thổ sông Hồng nhiều lúa gạo.

Địa Lý Nhân Văn Bằng Tranh Vẽ
       16 trang kèm theo gồm các bức tranh vẽ bởi Jean Despujols mang lại một chân dung con người và địa dư của vùng đất đang lâm chiên này. 
       Đã dành được Giải Hội Họa Đông Dương, lập ra bởi Hội Đồng Kinh Tế của Chính Quyền Đông Dương, nhà họa sĩ người Pháp nhiều tài năng này, nay là một công dân Hoa Kỳ, đã sống hai năm tại xứ sở đó ngay trước khi có Thế Chiến II.  Trong hai năm đó, ông ta sáng tác hơn 300 bản phác họa và tranh vẽ (trang 465).
       Tranh sơn dầu, màu nước, và bản vẽ của ông thu giữ được bàu không khí của rừng rú ẩm thấp vùng Đông Dương, vẽ lại các con đường uốn khúc của nó len lỏi giữa các cánh đồng lúa bóng loáng gương nước và vách đá lởm chởm, và phác họa chân dung người dân của nhiều bộ tộc quần tụ tại phần đất này của Đông Nam Á, một khu vực lớn hơn tiểu bang Texas một chút.
       Để tìm kiếm nhiều đề tài của mình, ông đã thâm nhập vào các phần khó tiếp cận nhất của xứ sở.  Ông đã du hành từ các cánh đồng của Căm Bốt, xuyên qua các vùng đồi xô đẩy nhau của Lào, và đến các đỉnh núi Bắc Kỳ nơi mọc lên các ngôi làng biệt lập của người dân núi đồi mặc quần áo có màu sắc vui tươi – người Mèo, người Mán, người Lô Lô và người Thái. 
       Ông đã kết bạn với các tù trưởng bộ tộc và dân làng trong số các bộ lạc người Mọi thuộc các khu vực chưa được bình định tại phía nam rặng núi Trường Sơn (Annamese Cordillera), trải qua một trận bão ven biển, bị quăng vào các luồng nước chảy xiết nguy hiểm của con sông Cửu Long và sông Nam Te [Nậm Tè ?] (Noire: sông Đen?, tức sông Đà?), và mệt nhoài trong sự ẩm thấp nhiệt đới khiến cho việc làm khô ráo các bức tranh của ông gần như  bất khả.
       Trong các cảnh quan của Despujols, không có kẻ thù nào đáng sợ hơn là con hổ (các trang 470, 474).  Các người mẫu của ông phản ảnh sự êm ả Đông Phương, hơn là sự lo sợ giương to đôi mắt.  Các bức vẽ của ông mang lại một cái nhìn thời bình của Đông Dương, giờ đây trở nên u ám bởi bóng tối của chiến tranh.
       Đối với chúng tôi, các người đang viết các dòng chữ này, các bức tranh của Despujpols chụp lại các bè bạn của chúng tôi và các nơi chốn chúng tôi hay biết, bởi chúng tôi đã rong ruổi khắp Đông Dương trong thời bình và kể từ khi chiến tranh xảy đến. *

Những Người Đàn Bà Uyển Chuyển và
Các Quan Chức Mặc Áo Có Hình Con Rồng
       Đối với chúng tôi, một Hà Nội, Huế, Phnom Penh, Vạn Tượng, Luang Prabang, và Sàigòn hương xa là các địa điểm sống động gợi nhớ người dân da vàng chen chúc chật cứng các ngôi chợ, các người đàn bà An Nam mang quần uyển chuyển và các quan chức mặc áo có thêu hình rồng rảo bước tại các triều đình thiết chế theo kiểu Trung Hoa, và các nông dân nhẫn nại vái lạy thần đất bên cạnh sông Hồng và con sông Cửu Long dũng mãnh. 
       Tại một số nơi, nhà cửa của họ bị san bằng bởi chiến sự hay bởi chiến thuật tiêu thổ kháng chiến của các kẻ theo ông Hồ Chí Minh, phe Việt Minh.  Các địa điểm này cũng gợi nhớ sự hiếu khách của người dân Căm Bốt cởi mở có tổ tiên Khmer cao quý đã dựng lên các đền đài nguy nga tại Angkor, và đến các ông hoàng và thường dân Lào thân thiện.
       Để hiểu được địa thế và dân chúng của nó, trước tiên hãy cứu xét xem tại sao lại có tên Indo-China (Đông Dương).

Ảnh 1: Phố Catinat, hai bên đường chạy dài các hàng cây và cửa hiệu, là Đại Lộ Champs Elysées của Sàigòn mang hương vị Paris.
       Đông Dương, được chạm khảm bởi văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, bao gồm Quốc Gia Việt Nam bị chiến tranh tàn phá và các Vương Quốc tương đối hòa bình, Căm Bốt và Lào.  Sàigòn, thủ đô của Việt Nam, biết được mùi sự khủng bố của Cộng Sản; các quả lựu đạn được ném không hề báo trước vào các quán bán cà phê và rạp hát của nó.  Các chiếc xich lô đạp thay thế cho các xe kéo kiểu cũ.  Cô gái gốc Trung Hoa này, quay về nhà với các bông hoa và thực phẩm, đang ngồi trên một chiếc xích lô như thế.


Ảnh 2: Ba Hàng Giáo Bằng Tre Tua Tủa Bảo Vệ Quản Lợi [?], Một Tiền Đồn Quân Sự
Ở các nơi khác, các tháp cao bằng gạch, canh gác bởi lính Pháp và Việt Nam, bảo vệ các xa lộ và các chiếc cầu chống lại các cuộc đột kích của quân Đỏ [cộng sản], các kẻ đến cướp phá, đốt cháy và giết chóc, sau đó trốn lại vào trong các khu rừng.  Một số làng có hàng rào dậu bằng cây gỗ.


Ấn Độ và Trung Hoa là các nguồn gốc văn hóa của nó.  Đằng sau các ngọn tháp đồ sộ của vùng Angkor huyền bí, vươn lên từ phế tích trên khu rừng gần Tonle Sap, hay Biển Hồ (Great Lake), tại miền trung Căm Bốt, ẩn hiện văn hóa cổ thời của Brahmans được du nhập từ Ấn Độ (trang 490).
       Brahmans cũng giám hộ người Chàm, dân tộc với các ngọn tháp bằng gạch và khoảng 100,000 người là tất cả nhưng gì còn sót lại của một vương quốc một thời hùng mạnh tại vùng duyên hải giờ đây là một phần của Trung Kỳ (An Nam).  Xa hơn về phía bắc, văn hóa Trung Hoa định khuôn cho sinh hoạt triều đình tại Huế.
       Xin lưu ý rằng từ ngữ “mandarin: quan lại” và đối với phần lớn người ta, nó để chỉ một viên chức của Đế Triều Trung Hoa.  Nhưng trong ngữ căn của nó, từ ngữ là một chữ gốc tiếng Phạn (Sanskrit) từ Ấn Độ, và từ lâu đã du hành lên phía bắc dọc theo Con Đường Cái Quan (Mandarin Road)  cổ xưa của Đông Dương, mà người Pháp đã đặt lại tên là “Đường Thuộc Địa Số 1: Route Colonial No. 1”.
       Các giáo sĩ Bà La Môn gốc Ấn Độ, các kẻ đã bật sáng thiên tài bản xứ của các người Khmers thời ban sơ, và các viên chức Trung Hoa, các kẻ cho người An Nam mượn văn hóa của họ, không phải là các kẻ duy nhất đến đây.  Tổ tiên của vùng Đông Dương cũng có gốc rễ tại núi đồi Tây Tạng, từ các cánh đồng Mông Cổ gió quét ngang, và từ các hòn đảo Indonesia, như các tranh vẽ của Despujols cho thấy. 
       Tại vùng đất có di sản chủng tộc phong phú này, người An Nam cần cù đã dành được vị thế chế ngự.  Việt Nam, khôi phục danh xưng cổ xưa của nó, mang nghĩa “Dân [Việt] ở phương Nam”, bao gồm các phần trước chiến tranh là Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam) và Nam Kỳ (Cochin-China), tạo thành bờ biển hình chữ S ở phía đông.  Tại Quốc Gia này, đang bị đe dọa bởi chiến tranh, có khoảng 22,000,000 người. **
       Các Vương Quốc Căm Bốt và Lào, chiếm cứ nửa phần nội địa phía tây của xứ sở, chỉ có số dân tổng gộp hơn 5,000,000 người một chút.  Chúng tương đối vẫn còn hòa bình và tự quản, nhưng đã sẵn có sự bắn tiếng rằng chúng cũng phải được “giải phóng”.
       Người Lào và các thị tộc anh em sơ khai hơn của họ rải rác khắp các thung lũng miền bắc Bắc Kỳ cho thấy phương cách mà các sắc dân của Á Châu cổ xưa đã di chuyển.  Họ là các thành viên của chủng tộc Thái (Tai) bao trùm, trong đó có cả người Xiêm La và người Shan ở Miến Điện.
       Nhiều thế kỷ trước đây, họ cư ngụ tại miền nam nước Trung Hoa trước khi miền này thuộc vào Trung Hoa.  Nhiều người vẫn còn ở lại đó.  Áp lực kéo dài, và cuộc càn quét của các đội quân của Kublai Khan (Hốt Tất Liệt), kẻ mà Marco Polo đã phục vụ như “thông tín viên chiến tranh” gốc Âu Châu duy nhất, đã phá vỡ các vương quốc được tổ chức của họ và đã đẩy nhanh cuộc di dân về phương nam.

Miền Đất Với Các Ngôi Nhà Trên Sườn Đồi
       Các bộ tộc khác đã di chuyển trên cùng lối đi tìm kiếm nơi trú náu này.
       Các bộ tộc người Mán, hay người Dao (Yao), theo bước chân người Thái tiến vào miền bắc Lào và Bắc Kỳ, nhận thấy các người đi trước đã sẵn chiếm ngụ các thung lũng; vì thế, họ đã dựng nhà của mình trên các sườn đồi.  Người Mèo, người Lô Lô, và các sắc dân khác đã đến kể từ đó để định cư tại phần sườn cao hơn của các ngọn núi.  Dân chúng Đông Dương chính vì thế đã trở thành một cuộc khảo sát theo cạnh xiên thẳng của kim tự tháp cũng như một sự khảo sát về sự bành trướng theo chiều ngang.
       Chúng ta cũng học hỏi về thể cách mẫu hệ, khi leo lên các ngọn đồi.  Các người đàn ông các bộ tộc núi đồi thường chấp nhận y phục của người dân vùng đồng bằng.  Nhưng các phụ nữ không như thế! Y phục của phụ nữ thật quá đặc sắc và nhiều màu sắc đến nỗi người ta phải lệ thuộc nhiều vào thời trang hơn là đặc tính để nhận biết một thị tộc.
       Vẻ đẹp của ngời Mán Tiền với tóc bôi dầu được chải cầu kỳ và bới cao, đồ trang sức được đánh bóng kỹ lưỡng, và váy xòe đáng ngưỡng mộ. Họ khó có thể bị nhầm lẫn với chị em họ Mán Cốc, các người ưa thích các chiếc quần thêu kiểu ô vuông bàn cờ, các búp chỉ sợi màu đỏ tươi trên áo của họ, và một chiếc khăn bịt đầu nhiều màu sắc.
Bên cạnh họ người Mèo trông giống như một nữ sinh với áo bẻ cổ của thủy thủ, váy ngắn, và chiếc nón rộng.  Chiếc nón này được quấn nhiều lớp chồng lên nhau quanh búi tóc cho đến khi nó nhô ra, như chiếc bánh kẹp phẳng phiu, quanh đầu.
Ngay người Mèo cũng được phân chia thành nhiều nhóm, Đen, Trắng, Đỏ và Hoa, tùy theo loại y phục mà người đàn bà mặc.  Cô gái người Mèo mở to đôi mắt mà Despujols vẽ mang trên tóc của mình một cuộn khăn quấn làm bằng đuôi ngựa bện vào nhau (trang 471).

Ảnh 3: Trang Phục Chứ Không Phải Gương Mặt Xác Định Các Bộ Tộc Miền Núi Đồi Bắc Kỳ
       Đối với các chuyên viên, các trang phục muôn đời này được dùng như các thước đo cao độ, bởi mỗi thiếu nữ thường sống ở một mức độ núi cao khác nhau.  Người Mèo Trắng e lệ (bên trái) đội mũ quấn vòng tròn và mặc áo cổ bẻ như thủy thủ.  Người Mán Tiền che kín bắp chân với chiếc mũ giống như cái diều, có vẻ sẵn sàng cất cánh khi gặp làn gió lên cao đầu tiên.  Chị em Mán Cốc của cô đội khăn quấn,  đính các búp bằng sợi mềm màu đỏ, và mang quần dệt hình ô vuông bàn cờ.  Cả ba đều có chung sự ưa thích các chiếc kiềng đeo cổ bằng bạc.
Sự nhận biết các thị tộc cũng có thể dựa vào lông mày! Trong số các phụ nữ người Mán, lông mày hiếm khi lộ ra, nhưng dưới mái tóc người Nùng, vật nổi lên như một chiếc khăn gấp sáng chói trên khuôn mặt, là cặp lông mày được uốn nắn tuyệt vời như thể chúng được cắt tỉa ở một thẩm mỹ viện chứ tranh không từ một túp lều miền núi.
“Mán” có nghĩa “Man Rợ: Barbarian” trong tiếng Hán hay “Hoang Dã; Savage” trong tiếng Việt.  Một tên gọi chính xác hơn cho bộ tộc là Kim-mien [?], có nghĩa “Người Miền Núi: Mountaineers”.  Trong số các thị tộc người Mán này có người Mán [có] “Sừng: Horns” (Mán Cốc), người Mán [có] “Tiền Trung Hoa: Chinese Money” (Mán Tiền) [có tiền đồng Trung Hoa đính trên áo của họ, chú của người dịch]; và những người có “Bảng Lớn: Large Boards” [?], người mang “Quần Trắng: White Pantaloons” [?], của “các Làng Trên Cao: High Vollages” , “Kẻ Hung Dữ: Ferocious Man” [?], và nhiều nhóm khác!

Người Thái Trắng và Người Thái Đen
Thái Trắng nghe có vẻ trịnh trọng hơn Thái Đen, nhưng ở đây là trường hợp ngược lại.  Người Thái Đen đã ghi chép ngôn ngữ của mình bằng thỏi mực và bút lông.  Họ nâng niu các kẻ trung thành với chế độ phong kiến và ít nghiêng về việc trở thành người Việt Nam như là Thái Trắng.  Các bức tranh của Despujols về Thái Đen và Thái Trắng phát hiện rằng họ là chị em, ngoại trừ sự khác biệt về màu sắc của các chiếc áo (trang 481).
       Điều được ước lượng rằng ba phân tư vùng thượng du Bắc Kỳ được cư ngụ bởi người Thái, bởi nơi đây, ngoài Thái Trắng và Thái Đen, còn có người Thổ, Nùng (Giai) [Giáy?], Nhang [?], và nhiều thành phần khác của chủng tộc đó.
       Bởi có xáo trộn được mưu tính tại các đồi núi Bắc Kỳ này, nhiều phần trong các nhóm này đã kết hợp với nhau thành một Liên Bang Thái, dưới sự lãnh đạo của một ông hoàng thế tập, và đã bày tỏ rằng họ sẽ kháng cự lại bất kỳ sự xâm nhập và chiếm đóng nào trên các phần đất của họ.
       Chống lại súng máy và súng cối, các khẩu súng rèn bằng tay và cung tên không mấy hữu dụng, nhưng dân miền núi có một truyền thống ngoan cường về tự do.
       Tại các ngôi làng bộ lạc biệt lập, người dân sống tại nhà và canh tác các loại cây như ngô, lúa mạch, khoai, và đôi khi cây thuốc phiện bằng cách phá rừng.  Một số trong các túp lều thô sơ của họ được dựng trên các cọc cắm trên sườn đồi; các nhà khác được dựng trên nền đất.
       Dân chúng thì e lệ nhưng hiếu khách.  Một người trong chúng tôi vẫn nhớ cử chỉ thân thiện của việc được biếu tặng hai trái trứng gà bởi một tù trưởng làng Mèo; tại ngôi làng tí hon của ông, trứng gà thì hiếm hoi.
       Phải thú nhận rằng được chụp ảnh các phụ nữ bẽn lẽn, ăn mặc y phục tươi vui, hay nhìn thấy các đàn ông Mèo nhảy múa trong điệu xoay vòng như giáo sĩ Hồi Giáo theo âm thanh đơn giản của kans [kèn ?] ống tre thì thú vị hơn việc trải qua đêm trong các ngôi nhà um khói, nơi mà các con lợn thường tụ do qua lại.  Các ngôi làng trên đồi, trông thơ mộng từ đàng xa, có thể dơ bẩn đến khó tin.
       Cao điểm trong kinh nghiệm của Williams [một trong hai tác giả, chú của người dịch] với người dân bộ tộc này xảy ra trong một hôm khi ông đi xe lên vùng Nguyên Bình [?] và Thất Khê.
       Hàng trăm dân làng đi xuống thị trấn, nhiều người mặc lễ phục đẹp nhất của họ.  Đàng trước các máy chụp ảnh của ông, họ đứng với bàn chân miễn cưỡng và khuôn mặt cúi xuống , bởi bất kể y phục bắt mắt của họ, các trinh nữ miền núi trẻ trung thì e thẹn.
       Tuy nhiên, giữa họ với nhau, dân trong bộ tộc có thể sống vui vẻ.  Các trai trẻ và thiếu nữ, tham dự một trò chơi có vẻ như một trò kết hợp bắn ná và bắn cung của David, cười đùa và la hét với một niềm vui hồn nhiên.  Kết thành từng đôi, họ lần lượt ném các quả tạ có đuôi dài vào một mục tiêu bằng giấy trên cao, và sẽ không hài lòng cho đến khi họ quăng trúng nó.  Nếu một người ném không trúng mục tiêu, kẻ kết bạn cố gắng tóm bắt quả tạ phía đàng đuôi trước khi nó chạm mặt đất.
       Đó là một cơ hội để các thanh niên nam nữ biểu diễn.  Trong thực tế, các thiếu nữ cũng điệu nghệ không kém trong sự nhanh nhẹn của bàn chân trần.  Trong niềm thích thú của trò chơi, các thiếu nữ thắt eo, nâng cao bộ ngực này biểu lộ năng lực và sự tao nhã của thể thao thế vận hội Olympia, và bày tỏ một tình đồng đội vui tươi.

Ảnh 4: Họa Sĩ, trong Phòng Vẽ, Kiểm Tra Một Kiện Hàng Chở Về Pháp, Các Bức Tranh Đông Dương Quý Giá Của Ông.
       Jean Despujols sáng tác khoảng 300 họa phẩm tại Đông Dương.  Ông mang chúng về sinh quán tại Pháp ngay khi Thế Chiến II bùng nổ.  Về sau ông trở thành công dân Hoa Kỳ.  Tại đây, trong năm 1948, tuyển tập của ông được chở đến Shreveport, Louisiana.  Ba trong số các bức tranh này, kể cả bức săn hổ, được sao chụp nơi các trang 467, 474, 479


 “Bàn Cờ” Nơi Các Thiếu Nữ Là “Con Cờ Đàn Ông”
       Một trò đánh cờ, được chơi giữa người Mán Cốc và Mán Tiền, thì tân kỳ.  “Bàn cờ” là một mảnh ruộng, được vạch thành các ô vuông bởi các thanh tre dài, chẻ đôi.  Các thiếu nữ mang đồ trang sức bằng bạc và các búp sợi chỉ là các “con cờ”.  
       Họ di chuyển từ ô vuông này sang ô vuông khác theo bước đi của các chủ tướng chơi cờ, ngồi dưới một nơi trú náu sơ sài gần đó.  Khi một con cờ -- tức thiếu nữ -- bị ăn, cô ta rời bàn cờ và nhập vào các khán giả.
       Các niềm vui đơn giản, thưa đúng vậy.  Nhưng ở đây là một trò giải trí vui tươi cho một người cầy cấy trên các nương đồi ban ngày.
       Ngày chợ phiên tại các thị trấn yên tĩnh mang một bàu không khi hội chợ của huyện [county fair, ở Hoa Kỳ, chú của người dịch], với các trò chơi cờ bạc và các màn trình diễn của các diễn viên người An Nam xen kẽ.  Với bộ lông đẹp đẽ và lớp lụa mềm mại, các dân làng thực khó để mô tả, thực sự trở thành các con chim đẹp.  Và các ban nhạc của họ, ít nhất, thì ồn ào!
       Thật là một hành trình không được đo bằng số dặm đường khi quay trở về, từ các ngôi làng đồi núi hay các thị trấn vùng nông thôn, để tham dự một buổi tiệc rượu hay một cuộc uống trà khiêu vũ tại Hà Nội, tự nó phân chia thành một thành phố Âu Châu được xây dựng đẹp đẽ với một thị trấn bản xứ nơi mà các cô gái bán hoa [mặc quần áo] nhăn nheo bày một chuỗi các bó hoa dọc theo bờ một cái hồ trong phố.  Thủ đô một thời hòa bình này đã ít bị tổn hại bởi chiến tranh.
       Nhưng một vài điều gì khác hiện ra khi lấy xe đi qua vùng thôn quê bao quanh Hà Nội và nhìn thấy các đường lộ được canh gác bởi các binh sĩ có vũ trang, và để thăm viếng các ngôi làng và các thị trấn đã bị tàn phá đến nỗi không còn viên gạch nào chồng lên viên gạch khác.
       Các binh sĩ của ông Hồ Chí Minh đã buộc dân làng phải đập phá các ngôi nhà của chính mình khi họ rút quân trước người Pháp hai năm trước đây, sau đó thường ra lệnh rằng các viên gạch và gỗ cũng phải được mang đi.  Tại một vài thị trấn, bị bỏ rơi trong sự vội vã, các tháp chứa nước và các công ốc chính bị phá nổ tung để ngăn cản chúng còn được sử dụng bởi người Pháp.
       Điều được nói rằng lực lượng nào kiểm soát được hai đồng bằng nhiều lúa gạo của Bắc Kỳ và Nam Kỳ sẽ kiểm soát được toàn thể Việt Nam.  Vào lúc chúng tôi đang viết, phần lớn hai khu vực này nằm dưới sự kiểm soát của binh sĩ Pháp và Việt Nam, ngoại trừ việc bắn sẻ, chính sách tiêu thổ, và các cuộc đột kích ban đêm.
       Người ta nhìn thấy ít nụ cười hơn trên khuôn mặt của các nông dân có nhà ở bị tàn phá, và có con trâu nước bị hạ sát để làm thịt bởi lính Nhật Bản trong Thế Chiến II hay đã bị lấy mất từ khi đó bởi các lực lượng Việt Minh.  Nhưng ngày nay, như mãi mãi, cái lưng của người nông dân đang còng xuống trên các mảnh lúa sình lầy của họ, để có hạt gạo vừa đủ nuôi cho mọi miêng ăn của xứ sở.

CÁC TRANH VẼ CỦA HỌA SĨ DESJUPOLS
Tranh 1: Angkor Đổ Nát Tái Tạo Các Điệu Múa Của Các Vũ Công Apsarases, Các Thiếu Nữ Hợp Xướng Của Các Vị Thần Ấn Độ Giáo
       Với bức tranh này, Tạp Chí National Geographic Magazine giới thiệu một loạt 16 trang gồm các tranh vẽ bởi ông jean Despujols, một họa sĩ Hoa Kỳ gốc Pháp.  Trước khi chiến tranh tàn phá Đông Dương, ông đã dành hai năm để họa chân dung các dân tộc của nó, từ người Căm Bốt, Việt Nam và Lào văn minh cho đến các bộ lạc miền núi chưa bình định xong.
       Thiếu nữ Căm Bốt này, tay cầm hoa sen linh thiêng và búp hạt sen của nó (tay trái), đứng tại Angkor, thành phố-đền đài Ấn Độ mà tổ tiên của cô, các người Khmers đầy tài năng, đã xây dựng từ bẩy đến mười thế kỷ trước đây (các trang 468, 469, 470, 471).  Trên các bức tường của nó, họ đã chạm khắc chìm chân dung của hàng trăm vữ công tế lễ.
       Nếu diễn viên nhảy múa tại triều đình Căm Bốt ngày nay, cô ta sẽ thay các tấm khăn khoác ngoài sơ sài bằng hàng thêu nặng nề, nhưng, giống như các tiền nhân thời xây dựng Angkor, cô ta sẽ đóng các vai cổ điển xa xưa của Ấn Độ, Mahabharata và Ramayana.


Tranh 2: Người Khmers Bỏ Phế Các Hành Lang Điêu Khắc và Các Ngọn Tháp Vươn Cao ở Khu Đền Angkor Wat; nguời Pháp Cứu Vãn Chúng Từ Khu Rừng


Tranh 3: Các Vũ Công Sống Động, Tô Phấn Trắng Ma Quái, Trình Diễn Tại Khu Đền Angkor Đã Chết Dưới Ánh Đuốc.


Tranh 4: Các Vị Thần Đã Biến Mất; Con Hổ Chiếm Giữ Sân Ngôi Đền Của Họ.  Con Hổ Không Đứng Làm Mẫu Để Vẽ, Nhưng Tiếng Rống Của Nó Khiến  Họa Sĩ Phải Ôm Đồ Nghề Bỏ Chạy


Tranh 5 & Tranh 6: Các người con gái của tộc Khmers và Mông Cổ Phản Ảnh Sự Hợp Chủng của Đông Dương.
       Tranh 5, Bên Trái: Thiếu nữ Căm Bốt, một vũ công tại Angkor Wat trong mùa đông, thuộc đoàn vũ hoàng gia ở Nam Vang, được hướng dẫn bởi mẹ nuôi của cô, một vị công chúa.  Cô xuất hiện trong trang phục ngày Chủ Nhật.  Khu Đền Angkor Wat hiện thân như một trong các thành tích kiến trúc vĩ đại nhất của thế giới.


       Tranh 6, Bên Phải: Cô gái Mèo ăn mặc ấm áp để chịu đựng khí hậu buốt giá của làng miền núi cạnh biên giới Trung Hoa của cô.  Tóc cô được quấn vào trong một cái khăn vấn bịt đầu làm bằng lông đuôi ngựa bện lại.

Tranh 7: Các Lá Phướn Giống Như Con Diều Của Giàn Thiêu Xác Tạo Ra Điệu Nhạc Trong Gió Nhẹ Như Các Chiếc Thụ Cầm (Đàn Hạc) Của Vị Thần Gió.
       Ngôi đền tháp nhọn này, được thấy tại Siemreap, cất giữ thân xác và giàn thiêu của một nhà sư Phật Giáo.  Mặc dù được dựng bằng tre và giấy có thể đốt cháy, nó sẽ không bị châm lửa mà lại được tháo gỡ đi.
       Các nhà sư Phật Giáo trong áo choàng khoác ngoài màu vàng của sự khiêm tốn, hướng mặt về phía đền.  Người Việt Nam ngồi xổm đang ăn cơm bán bởi một người bán hàng rong.  Các người Căm Bốt tháp tùng một vị cao tăng được khiêng trên một chiếc kiệu
       Phật tử Căm Bốt theo phái Hinayana, hay Tiểu Thừa.  Phần lớn các người đàn ông đều phục vụ tại các tu viện một phần đời của họ.


       Tranh 8: Các Cây Dừa Đong Đưa Trong Các Làn Gió Mùa Thổi Vào Từ Vịnh Xiêm La
       Em gái nhỏ này, bế đưa em trai nhỏ bên hông, đi theo họa sĩ khắp nơi ông đi đến khi ông vẽ tại làng cô bé.  Bố mẹ người Việt Nam của cô bé, có thuyền độc mộc nằm bên cạnh ngôi nhà mái tranh của họ, là dân đánh cá, giống như các dân làng khác.
       Cuối mỗi chiều, khi các người đàn ông quay vào từ biển, họa sĩ nhìn thấy họ phân chia phần bắt được giữa các người phụ nữ tùy theo số con của họ.
       Ngoài cá, dân chúng ăn dừa và gạo.  Các cây dừa che khuất tầm nhìn thấy các cánh đồng lúa của họ.


Tranh 9: Các Đàn Ông Radé, Miệng La “Giết Loài Giết Người”, Tấn Công Một Con Hổ Với Các Ngọn Giáo và Cung Tên.  Con Hổ Bạn Của Nó Nằm Chết Phía Góc.


       Tranh 10 & Tranh 11: Con Gái và Con Trai, Các Thành Viên Của Bộ Lạc Davak Sơ Khai, Cắt Tóc Ngang Trán và Dũa Răng Cho Nhọn
       Người Davak sống ở miền núi, có nguồn gốc Indonesian, thuộc vào một nhóm dân xa xôi được gọi chung là “Mọi”, có nghĩa “mọi rợ”.  Là các kẻ săn bắn gan dạ, người Mọi không nghĩ ngợi gì về việc đối diện với các con hổ, voi, và thú hoang.  Một số theo mẫu hệ, chuyển giao danh tính và tài sản qua người mẹ. 
       Người thanh nam tô điểm kiểu tóc của mình với một chiếc gương “chiếu hậu”



       Tranh 12: “Dẫy Núi Với 99 Ngọn” Lởm Chởm, “Xương Sống Của Con Rồng An Nam”, Đột Nhiên Trổi Lên Từ Các Đồng Lúa Phẳng Như Mặt Bàn.
       Các con trâu nước, quá chậm chạp đến nỗi chúng có vẻ chỉ hơi nhúc nhích, đang cày đất ngập nước.  Các người đàn ông và đàn bà đang cấy mạ.  Bên trái, một chiếc thuyền đang chạy trên Sông Đáy, một chi lưu của sông Hồng.
       Quân du kich Việt Minh cộng sản ẩn trốn vùng núi đồi Bắc Kỳ nhiều lần đột kích các lực lượng Pháp kiểm soát các đồng bằng.


       Tranh 13 và Tranh 14: Vẻ Thanh Nhã Của Con Gái Trung Kỳ Và Dáng Khỏe Mạnh Của Con Gái Bắc Kỳ Phản Ảnh Sự Tương Phản Giữa Các Chủng Tộc Chị Em Của Việt Nam
       Yêu [Yến?] (bên trái) đang trồng lúa gần Huế, nơi đặt triều đình An Nam cũ, khi họa sĩ tìm thấy cô ta.  Ông nhận xét: “Về nét thanh tao hiển nhiên của cô, các hoàng đế-thi sĩ trước đây là các kẻ chịu trách nhiệm, họ đã tuyển chọn các phụ nữ xinh đẹp nhất để phục vụ trong triều”.

Tranh 13 post ở đây

       Xuân (bên phải) “trở nên chua chát và cứng cỏi” bởi các sự túng thiếu.  Trồng lúa, đắp đê, và đẻ con là số phận của cô ta.  Hơi thở nhẫn nhục có vẻ như toát ra qua đôi môi của cô.”  Trong nhiều thế kỷ, ngôi làng duyên hải của cô đã là miếng mồi của hải tặc Trung Hoa.


       Tranh 15: Người Lào Ngược Dòng Nước Xiết Của Sông Cửu Long Trong Một Chiếc Thuyền Độc Mộc Khoét Ruột Có Gắn Động Cơ.  Các Người Đứng Canh Trông Chừng Các Hòn Đá Lộ Ra Bởi Luồng Nước Cạn.

       Tranh 16 và Tranh 17: Các Trinh Nữ Lào (bên Trái) và Wouni Nhắc Nhở Họa Sĩ Về Nữ Hổ Tướng và Đức Mẹ Đồng Trinh.
       Nàng Bouddhi dịu dàng (trong khăn quàng màu vàng), trái với sự biểu lộ quả quyết, đôi khi dữ dội của cô.  Sinh ra là người bình dân, cô ta là một nhà quý tộc hoang sơ.  Cô gái Wouni, ngọt ngào và tử tế, đã sốt sắng đi bộ hai ngày từ ngôi làng miền núi của cô để giữ đúng hẹn với Họa Sĩ Despujols.



       Tranh 18: Sương Tan Buổi Sáng Từ các Đỉnh Núi Của Lào Phát Lộ Một Dòng Sông An Lành.  Nhan đề của Họa Sĩ: Thức Dậy Tại Nam Khan: Awakening on the Nam Khan”.


       Tranh 19 và Tranh 20: Toàn Thể Thị Tộc Được Gọi là Thái Trắng (Bên Trái) hay Thái Đen,  Theo Màu Áo Của Phụ Nữ
       Các người Thái này giữ lại nhiều phong tục cổ.  Các phụ nữ bám chặt lấy các kiểu cách của tổ tiên, cho dù đàn ông thường chấp nhận y phục An Nam.
       Cả hai người làm mẫu đều tô điểm các áo chẽn bằng các chiếc cúc bằng bạc.  Thiếu nữ Thái Trắng, con gái một tù trưởng, mặc một chiếc váy bằng lụa có dấu hiệu riêng.  Cô gái Thái Đen, thực ra trắng như ngà, đeo ở dây thắt lưng các chìa khóa của nhiều két để tiền, cho thấy sự giàu có.


       Tranh 21: Đường Lộ của Bắc Kỳ Dẫn Đến Trung Hoa Đỏ Không Có Các Dấu Hiệu Của Các Cuộc Giao Tranh Chua Chát Của Chiến Tranh Du Kích
       Ba bộ tộc xuất phát từ Trung Hoa hiện sinh sống tại vùng này và canh tác các cánh đồng lúa bực thang của nó.  Họ giữ một vẻ xa cách lạ lùng với người khác, chỉ gặp mặt tại nơi họp chợ hay trên cao nguyên.  
   
Các Bức Tranh Phát Lộ Các Sự Khác Biệt Về Chủng Tộc
       Mặc dù Việt Nam hoàn toàn nằm trong khu vực xích đạo, mỏm cực bắc của nó gần chạm đường Hạ Chí Tuyến (Tropic of Cancer).  Mùa đông của nó tiếp giáp với khí mát lạnh lẽo.  Các bức tranh của Despujols nơi trang 477 thể hiện khí hậu mát lạnh hơn này được phản ảnh nơi hình thể của dân chúng, bởi người dân ở Bắc Kỳ thì tráng kiện hơn những người xa hơn về phía nam, nơi Việt Nam bò sâu xuống vùng Nhiệt Đới nóng bức.
       Nhưng đã có sự khác biệt giữa cô Xuân với khuôn mặt to của Bắc Kỳ với người chị em có xương nhỏ nhắn hơn tại vùng gần Huế trong các tranh vẽ của Despujols, chứ không chỉ có khác nhau về khí hậu.  Một phần vì nhiều thế hệ được nuôi dưỡng tại các triều đình cổ xưa của Trung Kỳ.
       Trong những năm hòa bình, khi lái xe dọc theo Con Đường Cái Quan mà không có sự lo sợ bị phục kích, chúng tôi lấy làm sững sờ bởi sự tương phản của người dân ở hai bên bờ đối diện của Ải An Nam, phần mũi núi nhọn thò đuôi cắt ngang con lộ, khoảng giữa đường Hà Nội và Huế.
       Đứng trên đỉnh núi, nơi có dựng lên một công trình kiến trúc đã từng có thời đánh dấu sự phân chia Bắc Kỳ và Trung Kỳ, người ta để lại đàng sau phần lớn các người Bắc Kỳ gò má rộng, lùn mập, có các người đàn bà mặc váy màu nâu bùn, và đội các chiếc nón [quai thao, ND] phẳng, to như bánh xe bò.
       Xuôi nam là những cô gái An Nam mảnh mai, mặc quần và áo dài may sát người.  Ở đây có các chiếc nón lớn, nhưng có hình dạng giống như các chiếc nấm to, chứ không phải như các khay trà phẳng lộn ngược cao chừng ba phân Anh (inch).
       Huế tự nó mang ý nghĩa “Hòa Thuận: Concord” [?], và trong nhiều năm nó có vẻ là một danh xưng thích hợp một cách độc đáo.  Trong lòng các cung điện cổ kính, xây theo kiểu Trung Hoa của nó bên bờ sông Hương thơm mùi hoa, đời sống có vẽ tĩnh lặng và an tâm.
       Khi các mùi vị Phương Đông bốc lên từ các làn khí nóng ẩm ướt, “sông Hương” có vẻ là một uyển từ êm tai.  Nhưng hương thơm của Huế không mang quá nhiều mùi vị cho bằng ý nghĩa của sự hấp dẫn về lịch sử.
       Không phải do nhà quy hoạch thành phố có tầm nhìn xa, tìm kiếm các trục lộ mậu dịch hay các công nghiệp, đã lựa chọn địa điểm cho thành phố.  Việc đó được làm bởi các nhà phong thủy, tìm cách trốn thoát khỏi các ma quỷ độc ác.  Giống như ở Bắc Kinh xa xôi, nơi mà Huế thường gửi cống phẩm đến, ba bức tường thành đồng tâm được bổ sung cho sự bảo vệ kinh đô, Hoàng Thành, và Tử Cấm Thành.  Nhưng các bức tường đã không bảo vệ các giấc mơ – hay các niềm hy vọng; nhiều tòa nhà trong cung điện mới bị đốt hồi gần đây và các nhà kho của chúng bị cướp bóc.
       Trước khi người Pháp bắt đầu chuyển giao quyền hành chính trị cho các nhà chức trách Việt Nam, Hoàng Đế Bảo Đại (Greatness Sustained) đã là vị vua thế tập nơi đây.  Giò này ông trở thành Quốc Trưởng của Việt Nam.  Và với sự thay đổi chính trị này, đã bay đi nhiều giấc mơ của Huế, dựa vào tổ tiên hào hùng và ghi khắc “Danh Biểu Nhân Vật” của họ trên các bia đá tưởng nhớ.
       Nếu các bức tường thành và Thiên Đàn Tế Trời của Huế làm liên tưởng đến Bắc Kinh, Hoàng Thành, các lăng tẩm của nó cũng gợi nhớ đến các ngôi mộ nhà Minh Trung Hoa ở cuối con đường có tượng đá đứng xếp hàng hai bên.  Cho đến gần đây, hoàng gia tại Trung Kỳ còn thực hiện các truyền thống đã bị chấm dứt tại Trung Hoa với sự sụp đổ của nhà Mãn Châu năm 1912.
       Một phi công, bay trên Hiếu Lăng [? Tomb of Filial Piety] của Huế, có thể nhìn thấy các bồn hoa kết thành hình chữ THỌ -  mang ý nghĩa Vĩnh Cửu (Eternity).  Trên gò đất gần bên, các màu cờ của Hội Địa Dư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Geographic Society) sẽ thích hợp.  Màu Xanh Của Trời, Màu Nâu Của Đất, và Màu Lục Của Nước tượng trưng cho Ba Quyền Năng mà mọi người Trung Kỳ đều cúi đầu vái lạy.
       Trong Tháng Ba, 1942, vua Bảo Đại cử hành buổi lễ ba năm một lần (triennial) [?] cuối cùng lên vị Chúa Tể Tối Cao.  Tháng Ba năm 1951, một lần nữa sẽ là thời điểm cho hành vi tôn quý nhất trong tín ngưỡng An Nam nếu các lực lượng chính trị không gây ra sự bãi bỏ nó, như ở Trung Hoa.

Cuộc Sống Trên Thuyền Tại Huế
       Trên các thủy lộ yên tĩnh bị đám cây cối làm nghẹt đường của Huế, đời sống trên thuyền xem ra thơ mộng.  Trên các chiếc thuyền này, các người đi thuyền với cẳng chân để trần, đứng trong bóng che của chiếc mũ dùng để chụp tắt ngọn nến, mặt hướng về phía trước khi đẩy mái chèo.  Hẳn phải là một đời sống cực nhọc, nhưng khi chiếc thuyền sơn dầu vàng lướt qua làn hơi ẩm nóng hay bóng che lốm đốm ánh mặt trời, người ta cảm thấy như thể có một đạo diễn ẩn mình đang bài trí “màu sắc tại chỗ” cho vẻ đẹp như tranh của nó.
       Từ Quảng Trị, cách vài dặm về phía tây bắc Huế, một con đường chắn ngang xương sống của rặng núi xanh lục nằm giữa Biển Đông và Thung Lũng Sông Cửu Long, phân chia Trung Kỳ và Lào.  Di chuyên trên đó vào một ngày, Williams đã được gặp tại Savannakhet, bởi một ban tiếp đón có màu sắc vui tươi của các thiếu nữ, cầm các cành hoa có mùi thơm dịu ngọt, và đang chờ để trình diễn một cảnh tán tỉnh yêu thương làm khoan khoái giới trẻ Lào (trang 485).

Ảnh 5: Các Chủ Tế Mặc Áo Lụa, Nâng Các Đồ Cúng Lên Cao, Cử Hành Lễ Thanh Minh Dành Cho Người Chết.
       Lê Văn Duyệt, một anh hùng Việt Nam một thế kỷ trước đây, được thờ cúng tại lăng và đền của ông gần Sàigòn, hôm 4 Tháng Tư, 1950.


Ảnh 6: Các Thanh Niên Thôn Quê Lào Tập Dượt Ban Ngày Cho Cuộc Ve Vãn Tỏ Tình Đầu Năm, Một Màn Ngoạn Mục Diễn Ra Vào Buổi Tối

       Khi mặt trăng hiện lên tại Savannakhet, người chụp ảnh đã nghe các chàng trai và các cô gái trao đổi những lời tán dương tình yêu bằng các câu thơ ứng khẩu.  Các thanh niên này đang khiêng một tháp lộng lẫy đến khu phụ nữ.


Trong khi các thiếu nữ quàng khăn mầu cầu vồng tỏ bày sự tôn kính, năm tù trưởng người Lào trong buổi lễ long trọng đã buộc một chuỗi sợi chỉ quanh cổ tay ông như một biểu tượng của thiện ý nhằm bảo đảm cho chuyến bay an toàn về Âu Châu và một lần về nhà hạnh phúc ở Hoa Thịnh Đốn.
       Tại Paris, ít ngày sau đó, có vẻ như dân chúng ở đó cũng mê tín dị đoan như ở Lào.  Nhận thấy sợi dây chỉ đơn giản này quanh cổ tay của ông Williams, một thiếu nữ Paris yêu cầu cô ta có thể được sờ vào nó.  Trong vài phút, hàng tá người khác cũng yêu cầu được làm như thế.  Một người còn khao uống rượu sâm-banh.
       Ngày đó bà Williams tại Hoa Thịnh Đốn đã đọc ba mẩu tin liên hệ nhau một cách khó hiểu: một, bức thư từ Sàigòn nói rằng ông Williams có thể trở về bằng chiếc tàu chạy bằng hơi nước; một, bức điện tín loan báo ông đến Paris bằng máy bay; một, đoạn tin trên báo cho hay chiếc thuyền đáng lẽ ông sẽ đi đã mất tích như thế nào ở ngoài khơi Socotra, với 69 người bị chết.
       Mãi cho đến khi ông trở về nhà, vòng chỉ sợi đeo tay may mắn đã sờn, mang các lời cầu nguyện của người Lào cho việc về quê may mắn, mới được gỡ ra khỏi cổ tay của ông!
       Khi một người đi xe xuống hướng nam từ Savannakhet tới Stungtreng, một âm thanh báo hiệu tăng dần trong nhịp rống liên tục.  Xuôi xuống hạ lưu con sông, người ta nhìn thấy các đám mây đầy sương treo trên bàu trời trong vắt.  Qua âm thanh và cảnh tượng, người ta biết rằng mình đã đụng vào một vách ngăn đá trên đó dòng Cửu Long mãnh liệt vấp phải và đập vào đó là những dòng nước chảy xiết chết người và các vách đá sắc nhọn khiến không có sự thủy hành nào có thể thực hiện được.
       Trước khi các chiếc máy bay cắt giảm các chướng ngại vật của trái đất, các tàu hơi nước đã chiến đấu trên luồng ngược dòng qua các khe núi của sông Dương Tử tại Trung Hoa.  Nhưng không có tàu nào chiến thắng được Thác Nước ở Paphang, gần Khone, trên một con sông vĩ đại khác này của Á Châu.
       Một thế kỷ trước đây, các chính khách đã nghĩ rằng người ta có thể đi theo con sông Cửu Long đến Trung Hoa.  Nhưng Thác Paphang đã chặn đường đi của Ernest M. L. Doudart de Lagrée và Francis Garnier.  Khi Jean Dupuis trong năm 1873 chỉ cho thấy rằng sông Hồng là con đường dẫn đến Vân Nam, Bắc Kỳ trở thành địa điểm hàng đầu trong cuộc chạy đua đến đế quốc.
       Các chiếc thuyên đi sông bản xứ dài, giờ đây được gắn động cơ, đã dành thắng trên nhiều đoạn của con sông và chạy ngược dòng nghe bình bịch cho đến Luang Prabang.  Một số phà cũng vượt qua các hàng rào cản của các con sông dọc theo Con Đường Cái Quan cùng các con lộ nhỏ, chậm hơn, dài 1,600 cây số, và băng ngang qua sông Cửu Long tại nhiều địa điểm nay là chuyện bình thường.
       Đêm đổ xuống tại núi rừng nhiệt đới có một tính chất hoài niệm.  Ngọn đuốc thô sơ được cầm bởi một người bản xứ thân thiện, đứng trong khu rừng rậm hay gần một con rắn bằng đá dựng đứng, gợi lên một cảm giác về tình liên đới trong một cõi ma thuật u huyền.  Giờ đây, dọc theo các đường mòn như thế, không phải lúc nào cũng có ánh đèn của ngọn đuốc thân thiện, bốc khói, hay sự chiếu sáng của các con đom đóm, mà là tiếng nổ giòn, sắc của một khẩu súng của kẻ bắn sẻ. 
       Ở gần thác nước ầm ỹ, một con đường cắt sang hướng đông chạy tới bờ biển tại Bình Định.  Một nhánh khác nối dài về phía nam xuyên qua Kratie đến Sàigòn.  Một nhánh rẽ trái ở Kratie cũng đâm ra phía đông chạy tới bờ biển.
       Lối đi kể sau xuyên các các đồi cây hoang dại và các cao nguyên cỏ mọc của rặng An Nam [rặng Trường Sơn], nơi cư trú của nhiều sắc dân hỗn chủng hơn của Đông Dương.  Bởi ở đây là các người Mọi sơ khai.  Mọi, một lần nữa, là một từ ngữ bao quát có nghĩa đơn giản “mọi rợ, hoang dại”, và dưới tên gọi này là các nhóm Radé, Jarai, Sedang, Davak (trang 475), Khasi, và nhiều bộ tộc khác.
       Không giống như người dân vùng đồi núi miền bắc, các người này thuộc tộc Indonesian.  Cũng vậy, không giống như các bộ tộc trang điểm vui tươi đó, các người dân này chỉ ăn mặc gần như không có y phục gì cả.
       Trên các đường mòn và các ngôi làng biệt lập, chúng tôi nhìn thấy đàn ông chỉ đóng khố hình chữ G và quấn khăn trên đầu.  Phụ nữ của họ tự tô điểm bằng chiếc váy đơn giản, chuỗi hạt ở cổ, và các khoen bằng đồng thau hay sợi đồng lủng lẳng từ các lỗ bấm tai chảy xệ xuống.  Một số người, với sự say mê đồ trang sức lòe loẹt hơn, có mang các chiếc vòng bằng đồng thau cuộn tròn từ cổ tay lên tới khuỷu tay và các móng tay được sơn màu đỏ tươi bằng mủ cây.
       Nơi đây nhà làm bằng tre và tranh, dựng trên các chiếc cọc.  Một số nhà dài hàng trăm bộ Anh (feet) và có vẻ giống như các nhà theo từng dẫy, ngoại trừ chúng chỉ có một lối ra vào duy nhất! Nhiều gia đình liên hệ cùng sống dưới một mái nhà.
       Hiển hiện nhất ở bên trong, gần như không có đồ đạc thiết bị, là các dãy bình rượu gạo được xếp dựa vào vách.  Giống như các nhà bộ lạc khác, chúng không có ống thông hơi, nhưng làn khói đen sau rốt thoát qua mái tranh có một lợi điểm là phục vụ như loại thuốc đẩy lui các con muỗi.
Trong số các người Radé và Jarai, hai sắc dân có dân số đông nhất và phát triển cao độ trong các bộ tộc Mọi này, các quyền hạn của phụ nữ là điều không có gì cần thắc mắc.  Bởi ở đây chế độ mẫu hệ thịnh hành, cả tài sản và tên họ đều được truyền thừa qua người mẹ.
       Bởi thường có nhiều con trai hơn con gái trong bộ lạc, các cô dâu cũng ở vào vị thế tốt để mặc cả.

       Ảnh 7: Dòng Nam Khan Uốn Mình Xuyên Qua Các Ngọn Đồi Hỗn Độn Tiến Tới Chỗ Hợp Nhất Với sông Cửu Long tại Luang Prabang
       Xứ Lào sương mù, mơ mộng thoát khỏi các khía cạnh xấu nhất của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn của Việt Nam.  Đây là cảnh mùa khô của nó, khi các bãi cát nằm phơi mình và các người chèo thuyền không gặp khó khăn để chống sào đi qua luồng nước hẹp.  Các cây dừa cao, nguồn cung cấp hạt cau, mọc lên dọc bờ sông.  Muốn có cái nhìn của họa sĩ về Nam Khan, xem tranh vẽ nơi trang 480.
Ảnh 8: Lính Lê Dương Gốc Nước Ngoài Của Pháp, Chải Chuốt Trước Khi Tiến Vào Trận Mạc, Đang Sử Dụng Một Dòng Nước Trên Đồi Làm Chậu Giặt Quần Áo
       Các người này chiến đấu với một kẻ địch lẩn trốn, hoàn toàn vô hình, các kẻ khủng bố Đỏ của ông Hồ Chí Minh, các kẻ thường tấn công vào ban đêm và sau đó biến dạng vào vùng đồi núi.


Các Quy Luật Nghiêm Ngặt Của Việc Làm Mai
       Bước đầu tiên của bất kỳ cuộc làm mai nào cũng phải bắt đầu với cha mẹ của chàng thanh niên.  Khi tiếp xúc lần đầu, họ mang quà biếu bằng trầu, một cử chỉ được biết rộng rãi như là “cuộc thăm viếng với món quà nhỏ của lá trầu đến chiếc cổng vườn nhỏ”.  Nếu được đón tiếp thuận lợi bởi cha mẹ cô gái, khi đó món quà thứ nhì và cầu kỳ hơn được trao tặng.  Thường nó gồm cả gà và gạo cũng như trầu.
       Nếu mọi việc tiến triển êm xuôi, chàng thanh niên có thể tự nhận thấy minh kết hợp sự tán tỉnh với công việc làm trong nhà cha mẹ cô dâu để trả cho phí tổn lấy cô gái.
       Tại một số đảo ở Thái Bình Dương, cặp tình nhân đốt cháy “các vết sẹo tình yêu” trên cánh tay của nhau; ở đây các người yêu nhau trong bộ lạc rạch mặt nhau như một dấu ấn hay chữ ký của hôn khế!
       Mặc dù trong bản chất là các người theo nghiệp nhà nông, nhiều người đàn ông Mọi là các nhà săn bắn và lùng bắt tuyệt hảo cho cuộc săn bắn lớn, diễn ra rất nhiều trong vùng.  Đặc biệt người Mnong, sống ở phía tây Ban Mê Thuột, nổi tiếng là các kẻ săn voi giỏi.  Bắt và thuần hóa các con voi con mang lại một nguồn lợi tức quan trọng.
       Đà Lạt, trạm nghỉ mát vùng núi đồi thú vị cho một Sàigòn phức tạp, nằm trên các ngọn núi này, nơi mà người Radé gần như trần truồng di chuyển trên các lối đi, đeo theo cung tên và các giỏ sản vật.  Hoàng Đế Bảo Đại sống phần lớn thời giờ của ông ở Đà Lạt này hơn là ở Sàigòn, thủ đô.  Ông và các viên chức khác đi lại bằng máy bay.
       Một vài tháng trước đây một trong chúng tôi có được hân hạnh đi bằng máy bay, bởi một đoàn xe cơ giới di chuyển từ Sàigòn lên trạm nghi trên núi bị phục kích và hơn nửa số xe bị phá hủy.
       Sàigòn vui vẻ mang hương vị Paris của vài năm trước đây giờ không hoàn toàn tươi tắn như thế.  Mặc dù các quả lựu đạn thỉnh thoảng được ném vào các quán cà phê mở cửa phía trước và các rạp hát, nó vẫn duy trì được một mức độ yên lặng khá tốt (trang 462).
       Mùa xuân vừa qua, khi ông Moore [một trong hai tác giả của bài viết này, chú của người dịch] ở đó, lệnh giới nghiêm ban đêm nghiêm ngặt đã được gỡ bỏ.  Các quán rượu và sòng bạc tại phố Tàu kề cận ở Chợ Lớn một lần nữa lại lung linh với ánh lụa mượt mà, và tiếng kêu sôi nổi của giọng nói vượt lên trên tiếng rao đơn điệu buồn tẻ của hồ lì [sòng bạc].
       Một buổi tối, mặc dù đạn súng cối vẫn nổ tại các đầm lầy bên sông ven thành phố, ông đến tham dự một buổi dạ hội tại Hội Quán Đua Ngựa (Cercle Hippique), nơi mà các phụ nữ Pháp mặc áo choàng bằng vải nhẹ cùng các kẻ tháp tùng mặc đồ trắng tinh, theo dõi các sĩ quan kỵ binh và các người cỡi ngựa khác đem lại một sự phô diễn sinh động của màn phóng qua rào cản.
       Ngày kế tiếp, có buổi Lễ Thanh Minh Dành Cho Người Chết (Feast of the Đea), được tổ chức bởi các viên chức Việt Nam tại đền thờ và lăng ông Lê Văn Duyệt, vị tướng lĩnh nổi tiếng dưới triều Hoàng Đế Gia Long là kẻ đã giữ hốt ngọc của An Nam một thế kỷ trước đây.  Lễ vật gồm có một con bò, một con dê, và một con heo, cùng các khay chất đầy cơm và trái cây được đặt trước bàn thờ (trang 484).
       Theo nhịp bài ai điếu dài được chấm câu bởi trống, sáo, và đàn dây thanh cảnh, các viên chức ngôi đền trong áo dài màu xanh và tím, đi giầy bằng nỉ có đầu mũi giầy cong lên, và mũ vuông, đã thắp nến và hương,  và cúi đầu vái lạy khi dâng cúng trà và rượu.
       Di chuyển theo hướng tây bắc từ Sàigòn đến Nam Vang, và khuôn mặt của Đông Dương một lần nữa lại thay đổi.  Trên các đường lộ và tại những ngôi làng tre được đánh dấu bằng các ngọn tháp chùa mảnh mai, bạn nhìn thấy các người đàn ông và đàn bà có nước da màu nâu đậm, tóc của họ được cắt ngắn sát chân tóc, và cả hai phái đều mặc thay cho quần tấm sampot, một mảnh vải quấn quanh thân thể và buộc túm phía trên như chiếc tã ở giữa hai chân. 
       Trong họ cũng vậy, có nhiều tu sĩ Phật Giáo cạo đầu trọc mặc áo choàng giống như áo dài La Mã xa xưa màu vàng.  Đây là những người Căm Bốt, có tổ tiên gốc Khmers từng có thời thống trị phần lớn vùng đông nam của Á Châu (trang 471).
       Ngày nay Quốc Vương Norodom Sihanouk 29 tuổi trị vì trên 3,500,000 người dân hiếu khách, thân thiện này.  Cung điện của ông nằm ở trung tâm thành phố ngăn nắp Nam Vang, bởi một sự éo le lạ lùng của lịch sử, có vẻ có cùng kiểu mẫu của thành phố tại Bangkok, Thái Lan.
       Nhiều thế kỷ trước đây, người Khmers kiểm soát phần lớn Thái Lan, hay Xiêm La, nhưng vùng đó, cũng như kinh đô Khmer nổi tiếng tại Angkor, đã bị rơi vào tay người Thái, các kẻ đã di cư từ miền bắc xuống.
       Các nhà vua chiến thắng của Thái đã tiếp nhận nhiều tập quán triều đình Khmer, bởi đối với họ, nghi thức Khmer tượng trưng cho văn hóa.  Người Căm Bốt, kế đó, đã tiếp nhận một số điều gì đó mang tính chất Xiêm La khi xứ sở của họ tự tái khẳng định.  Cả hai nước chia sẻ chung ảnh hưởng của nam tông Phật Giáo, Hinayana, tức phái Tiểu Thừa để thay thế cho sự thờ phượng trước đây của họ đối với các vị thần của Ấn Độ Giáo.
       Trung tâm của Căm Bốt là một đồng bằng trải rộng, trơ trụi và bị thiêu đốt trong nửa phần sau của mùa khô kéo dài sáu tháng, nhưng lại xanh rì với các cánh đồng lúa khi cơn mưa hàng ngày đổ xuống trong tháng Năm hay tháng Sáu.  Tại Nam Vang, người Việt Nam và người Trung Hoa là các chủ tiệm; người Căm Bốt là các viên chức nhà nước hay dân làm ruộng.

Các Bức Chạm Khắc Giống Như Tấm Rèm
Thách Đố Rừng Rú
       Cả hai chúng tôi đều có mặt tại Nam Vang vào dịp Năm Mới trong tháng Tư, khi kinh đô mang phong thái lễ hội.  Nhưng cách nào đó, các cuộc nhảy múa cổ điển và hành hương đên chùa ngày hội có lẽ sẽ hay nhất khi được nhìn với bối cảnh của khu Angkor lịch sử, với các tòa tháp bằng đá và các hình chạm khắc trông giống như tấm rèm viền hãy còn thách đố sự công kích của rừng núi, cuộc chiến đấu của chúng được trợ lực một cách may mắn bởi các công tác khai quang và sự phục hồi khéo léo của người Pháp.
       Ở đó, vào ban ngày, chúng tôi đã nhìn thấy các người đi hành hương thắp hương tại các sân đền âm vang và vuốt ve các bức tượng đá khắc nổi đến độ làm cho đá cẩm thạch trơn nhẵn và bóng loáng.  Ở đó, khi ban đêm nhiệt đới mang lại an bình cho khu rừng, chúng tôi tận hưởng bằng mắt một quang cảnh ngọan mục, quá mờ để chụp hinh, nhưng là cảnh mà Despujols đã chuyển lên khung vẽ.
       Băng ngang dãy hào đầy sen, các ánh lửa vàng lập lòe xác định một bóng tôi trong đó năm ngọn tháp cao của Angkor Wat có vẻ ma quái nhiều hơn là các vì sao.
       Bước trên con đê gồ ghề, một hình dáng to lớn, ngất ngưởng nặng nề đi qua.  Một trong những con voi của ngôi đền sắp sửa bổ túc thân xác đồ sộ không màu sắc của nó cho vẻ lộng lẫy của trang phục bằng vàng, phản chiếu tia sáng của ngọn đuốc màu vàng dưới nền trời mượt nhung.
       Đàng sau một đoàn vũ công, trên các khối đá nhiều tầng cao như núi, có khắc hình các vũ công Apsarases linh hoạt với các điệu bộ giờ đây được đối chiếu bằng chân và tay sống động.  Các thiếu nữ nhảy múa mặt tô phấn, nói huyên thuyên trong sự hỗn độn đàng sau sân khấu vài giây phút trước đây, thủ diễn các tư thế mềm mại như thể các nhà điêu khắc vô danh đã tạo hình trên phiến đá vô hình trước khi Marco Polo nhìn thấy các công trình kỳ diệu khác tại Á Châu, nhưng lại không nhìn thấy các tác phẩm này.

Ảnh 9: Ông Hoàng Giao Chiến Với Quỷ Sứ Trong Cuộc Múa Song Đấu Bên Cạnh Các Bức Tường Nhiều Tầng Của Angkor
       Đoàn kịch của Nam Vang lập lại các tư thế khắc chết vào đá bởi các nhà điêu khắc của Angkor một nghìn năm trước đây (các trang 467, 469).  Ở đây, Ông Hoàng Rama (bên trái) của thần thoại Ấn Độ đánh nhau với Quỷ Ravana có nhiều cái đầu để dành lại người vợ bị bắt trộm.  Các người kể chuyện, các nhạc công và người hành hương choán cả hậu trường. 

Các Thiếu Nữ Nhảy Múa Của Đền Angkor
       Tại Sabrata hay Syracuse [thành phố thuộc đảo Sicily, miền tây nam nước Ý, chú của người dịch], các diễn viên sống động mang cuộc sinh hoạt mới, ngắn ngủi đến cho khung sườn bị thời gian làm bạc phếch của các rạp hát đổ nát.  Nhưng tại Angkor, trong bóng đêm vùng nhiệt đới, cả khối đá đồ sộ và các nữ vũ công sống động đều có vẻ siêu trần (các trang 467, 469, 471, 488).
       So sánh với các con voi trận được khắc chìm, các con voi của chúng ta xem ra không có sinh khí, bởi chúng không chuyên chở các ông hoàng ra trận.  Và các vũ công sinh động, mặc các chiếc áo thêu cứng ngắc ngày nay, xem ra ít sức sống hơn các nàng vũ công Apsarases của ngôi đền với các bầu vú tròn trịa và các nụ cười bí hiểm mà các nhà điêu khắc đã tán tỉnh từ phiến đá cứng cỏi.  Song ở đây gần như một lần nữa người Khmers đã thức dậy từ đám bụi của nhiều thế kỷ.
       Thành phố có tường thành bao quanh Angkor Thom, được gọi tên trong thời đại của nó là Yaҫodharapura, đã có lúc chứa đến một triệu người.  Người dân đã ra đi, và nhà cửa của họ cũng đã biến mất.  Nhưng ở đây vẫn còn có năm cửa vào thành phố, ngôi đên Bayon trung tâm to lớn, và các tu viện bên ngoài với các ngọn tháp trên đó bốn khuôn mặt của Lokesvara (Avalokitesvara: Phật Bà Quan Âm) mỉm cười, cũng tượng trưng cho chân dung tạc theo mẫu của Nhà Vua Jayavarman VII, vị vua xây dựng-chiến đấu vĩ đại vào cuối những năm 1100.
       Các nhà vua khác trước ông cũng hiện diện rải rác trong nước với các đền thờ được chạm khắc phong phú, ngay dù trong sự kìm kẹp màu xanh của rừng, làm nổi bật sự vinh quang mà người Khmers đã vươn lên trước khi Âu Châu phóng ra cuộc Thánh Chiến của nó hay Gengis Khan lên nắm quyền hành.

Xứ Lào Với Hai Kinh Đô
       Đi về hướng bắc, băng ngang qua phần phình lớn phía đông Thái Lan, một phần được bọc quanh bởi sông Cửu Long, là Vạn Tượng (Vientiane), thủ đô xứ Lào.  Chính quyền ở Lào là một vấn đề, bởi các bộ trưởng hội họp tại Vạn Tượng, trong khi Nhà Vua và triều đình của ông cư trú tại Luang Prabang, ngược dòng sông lên trên xa hơn.
       Bởi các bộ trưởng đi từ Vạn Tượng đến Luang Prabang để hội kiến với Nhà Vua cần đến khoảng 12 ngày bằng một trong các thuyền độc mộc có gắn động cơ chạy trên con sông lộng gió.  Tuy nhiên, trong mùa khô, người ta có thể xuyên qua quãng đường bằng đường bộ hay bay đến đó trong một tiếng đồng hồ -- nếu sương mù không che khuất phi đạo bao quanh đồi.
       Thật may mắn khi chúng tôi đi, các ngọn đồi được nhìn thấy rõ.  Một cách chuyên nghiệp, phi công bay vòng quanh ngọn đồi có ngôi chùa nhọn trên đỉnh tại trung tâm thành phố và và lướt xuống bãi đáp ngắn.
       Cả Vạn Tượng và Luang Prabang là các thành phố đền chùa yên tĩnh, và dân chúng có vẻ vui hưởng đời sống nên thơ, không mong ước gì hơn ngoài những điều được cung cấp bởi Thiên Nhiên phong phú.  Một cách chắc chắn, nếu các nụ cười và lòng hiếu khách là bằng cứ xác thực, khi đó người Lào là các kẻ hạnh phúc.
       Cản trở giao thông lớn nhất mà Luang Prabang gặp phải là khi các con voi của hoàng cung đi bộ ra phía sông để được tắm rửa hàng ngày hay nghỉ ngơi trước một ngôi chùa  để được cho ăn các bó cỏ và nghe các câu thần chú thì thầm vào tai của chúng.
       Đã sống một số năm tại Thái Lan, ông Moore cảm thấy giống như ở nhà, bởi các ngôi chùa Phật Giáo, các điệu múa dân gian, y phục, và ngôn ngữ của các người dân này gần như giống hệt với các điều như thế của miền bắc Xiêm La.  Đôi khi, trong các thời đại trước đây, Lào có gửi các cây nhỏ làm bằng vàng và bạc làm cống phẩm lên triều đình ở Bangkok.
       Tại các cụm núi phía bắc Luang Prabang có nhiều dân cư ngụ trên đồi là những kẻ đã di cư đến đó, để tìm sự bình an.  Nhưng ngày nay, xứ Lào đang theo dõi một cách âu lo biên giới phía bắc này chống lại sự xâm lăng ít hòa dịu hơn./-  
---
*Xem trong Tạp Chí National Geographic Magazine các bài: “By Motor Trail Across French Indo-China” của Maynard Owen Williams, số Tháng Mười 1935; “Strife-torn Indo-china”, số Tháng Mười 1950, và “Along the Old Mandarin Road of Indo-China”, số Tháng Tám, 1931, cả hai được viết bởi tác giả W. Robert Moore.  Các bản dịch sẽ được đăng tải nơi đây.
** Xem bản đồ sơ lược trên trang 501, National Geographic Magazine, số Tháng Muười 1950, và bản đồ Á Châu và Các Khu Vực Kề Cận (Map of Asia and Adjacent Areas) của National Geographic Society, được ấn hành làm phụ bản cho số báo Tháng Ba, 1951.          
-----
Nguồn:  W. Robert Moore và Maynard Owen Williams, Portrait of Indochina, with 30 Illustrations, 21 Paintings of Jean Despujols, The National Geographic Magazine, April 1951, Washington D. C., các trang 461-490.

Ngô Bắc dịch
8/2/2010