trang

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

ĐI CHỢ SÀI GÒN

Ngày 06 tháng 9 năm 2011


Đàm Hà Phú - Đến đâu ở Việt Nam, chỗ đầu tiên bạn được khuyên nên đến thăm, chính là cái chợ.

Ở đó, có những thứ bạn cần cho một chỗ ở mới, có các sản vật từ thiên nhiên đến nhân tạo và hơn hết, ở đó đặc sệt một thứ văn hóa vùng miền.

Cho dù bạn có thích hay không, thì bạn cũng phải ít nhiều hít thở, chia sẻ và gắn bó với bầu không khí ấy.

Không ai có thể nói hết, Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ. Ý tôi là chợ chính thức được bản đồ ghi nhận, chứ không kể các chợ chồm hổm, chợ chiều, chợ chạy, chợ lạc xoong, chợ chìm, chợ đen, chợ…búa.

Sài Gòn nhiều chợ kinh khủng: Từ lớn lớn như chợ Lớn,  chợ Bến Thành, chợ An Đông đến nho nhỏ như cái chợ phường, chợ xóm; từ chợ bán buôn từng mặt hàng riêng biệt như chợ vải, chợ cá, chợ rau, chợ hóa chất, chợ phụ tùng… đến những cái chợ bán hầm bà lằng xắng cấu như chợ Nhỏ, chợ Dân Sinh...

Dù là chợ gì thì luôn đậm đặc không khí của một Sài Gòn, năng động, tình cảm và phóng khoáng.

Người ta lo ngại cho số phận những cái chợ, một khi hệ thống siêu thị bán lẻ tràn ngập khắp thành phố. Các siêu thị càng ngày càng lớn, hàng hóa đa dạng, dịch vụ hoàn hảo và rất nhiều tiện ích khác.

Nhưng chợ vẫn còn đó, dù vẫn nóng, vẫn dơ, vẫn ồn áo và náo nhiệt, nhưng vẫn không ít khách hơn là mấy.

Có lẽ vì người ta đi chợ đôi khi không phải để mua hàng, người ta đi chợ như đi thăm người quen vậy, ở đó luôn có thứ tình cảm mà ở siêu thị không có.

Có lẽ vì người ta đi chợ không phải vì giá ở chợ rẻ hơn, người ta đi chợ để được gặp nhau, được nghe, được nói, được chào hỏi…

Ở Sài Gòn, khi vô trong chợ, bạn được coi như người nhà, người ta kêu bạn bằng đủ thứ tên hoặc đại từ nhân xưng.

Nếu bạn còn trẻ, bạn thường được gọi là “cưng”, “con”, “em gái”, “chế” hoặc kêu những cái tên do người ta đặt ra như “chị Hai, cô Ba”...

Còn nếu lớn tuổi bạn có thể được gọi là “má”, “ngoại” hay “gì Hai, thím Hai” rồi xưng con ngọt xớt.

Ở Sài Gòn, khi đi chợ bạn luôn nhận được những tiếng mời chào dễ thương, đến nỗi cho dù có đủ gan từ chối bạn cũng không thể không mỉm cười cảm ơn: “Nè cưng, ngồi xuống ăn ly chè mát đi!”, hay: “Má ơi! Vô đây con thử đôi guốc này coi vừa chưn hôn má, không mua cũng được!”…

Nếu là đàn ông đi chợ với vợ, thì bạn cũng được chào mời, dù biết bạn chẳng mua gì: “Em trai ngồi ghế chơi đi để chị chọn đồ cho bà xã hen. Uống café hôn để chị kêu!”.

Nếu vô coi hàng rồi mà không ưng ý thì cũng đừng ra mặt kẻo người bán họ buồn, nếu không ưng thì cứ cảm ơn rồi đi, bạn sẽ vẫn nhận được nụ cười tươi như khi bạn đến: “Bữa khác ghé lại nghen mấy cưng!”.

Ở Sài Gòn đi chợ phải ăn mới đúng điệu, chợ nào cũng có hàng ăn, ngay trong chợ hoặc phía sau, bên hông, hoặc giả đâu đó mà bạn không cần biết.

Hàng quán đôi khi xập xệ và tạm bợ, lại còn trông hơi mất vệ sinh, vậy chớ ăn ngon lắm, đồ ăn nóng hổi và đầy đủ gia vị.

Thường mỗi hàng một món, có chỗ chuyên bán nước, có chỗ chỉ bán đồ ăn sẵn. Nhưng đừng ngại, bạn có thể ngồi ở hàng phở mà kêu tô bún bò cũng có người bưng tới.

Có thể ngồi ở hàng café mà kêu cơm tấm cũng được phục vụ vui vẻ. Cũng có chỗ thì thì bạn có thể uống trà đá miễn phí, đến đã khát thì thôi.

Có lần tôi đi ngang một chỗ bán quần áo ở chợ Bến Thành, thấy chị bán hàng đang ăn bún riêu, tôi buột miệng nói: “Nhìn ngon quá!”.

Chị ngước mặt đầy mồ hôi, nhìn tôi sởi lởi: “Ngon dữ! Ăn không? Ngồi đây đi em trai, chị kêu vô cho. Một phút có liền. Ăn đi chị bao mà!”.

Từ đó, tôi là khách của bà bán bún riêu chợ Bến Thành, lần nào ghé cũng 2 tô đúp. Tôi có thể nói ai đi chợ Bến Thành mà chưa ăn bún riêu của bả thì coi như chưa biết chợ Bến Thành vậy.

Đi chợ ở Sài Gòn cảm giác lạ lắm, người bán luôn tìm cách làm vừa lòng bạn như không hề vụ lợi.

Ở chợ, bạn được coi như thân tình, như bà con, như bạn bè. Bạn có thể trao đổi với người bán về chuyện học của con bạn hay chuyện ông hàng xóm khó chịu của bạn.

Bạn luôn được lắng nghe và chia sẻ. Bạn luôn được động viên và giúp đỡ rất chân tình.

Nếu bạn đang ở hàng quần áo và sực nhớ là muốn tìm một bộ chén, thì người bán quần áo sẽ dẫn bạn tới chỗ bán sành sứ, và giới thiệu rằng "bạn là anh/chị/em/bà cô/ bà dì của họ…", rằng bạn phải được "mua giá sỉ, rằng bạn là VIP"... Bạn nghĩ tất cả chỉ là hình thức ư?.

Không hề!. Thiệt tình đó bạn và bạn không bao giờ cảm thấy phiền vì điều đó.

Cho dù có mua phải một món hàng bị hớ giá, hoặc tìm không ra món đồ mình thích. Bạn sẽ luôn nhận được những món quà bất ngờ cho dù bạn không đòi hỏi: Mua chục trái cây được mười lăm, mười sáu trái; mua hai cái áo tặng thêm cái nón; mua có cái bóp được đãi ly cafe... không phải hàng khuyến mãi đâu bạn, đó là tấm lòng, hãy nhận bằng cả tấm lòng.

Có lần tôi mua một sợi dây nịt với giá 200 ngàn, khi đi một vòng tôi phát hiện cũng sợi dây nịt đó được bán chỗ khác với giá 120 ngàn. Tôi quay lại cười với gã bán: "Nè anh!. Sợi dây này bên kia bán có 120, sao nãy anh bán tôi 200?".

Gã cười xềnh xệch: "Chắc em lộn giá!. Thôi để em đền anh cái bóp xịn hen. Bóp này hàng hiệu luôn, giá tới năm trăm đó!". Tôi coi cái bóp thấy cũng ưng ý, dù biết tỏng nó chưa tới tám chục, cũng vui vẻ cầm.

Sau này mỗi lần ghé, gã đều nói: "Anh cứ đi một vòng, chỗ nào bán rẻ hơn em đền anh gấp đôi, còn bao anh café nữa!".... Thiệt!. Nói vậy chớ tôi chẳng hỏi ai bao giờ, tôi tin gã.

Vợ chồng tôi, trước có hay mua đồng hồ ở cổng chợ Bến Thành, mỗi lần một cặp. Sau này mỗi lần đi vô chợ, là chị bán đồng hồ lại kêu lại, nói: "Thằng Hai!. Chị để dành cho tụi em cặp này bữa giờ!. Đẹp lắm, giá gốc luôn! Hàng xịn đó!".

Lần nào cũng một cặp nữa. Riết không dám đi cổng chính. Toàn quẹo vô chợ từ bên hông chợ. Vì đi cổng chính, thể nào cũng mua một cặp. Không thể từ chối chị được.

Có lần chúng tôi đi du lịch, vợ tôi gặp một phụ nữ khác cũng đi với gia đình. Cô bạn kia cũng chào tôi và tỏ ra mừng vui không xiết. Thế là hai bên xúm lại, trò chuyện, giới thiệu chồng, con, gia đình rồi cùng ăn uống vui vẻ.
Tôi cứ nghĩ đó là một cô bạn thân của vợ tôi, mà tôi chưa biết. Sau khi chia tay nhau và cùng hẹn sẽ đi Thái Lan, tôi hỏi lại vợ xem "Bạn này là thế nào", thì vợ cười ha hả: "Anh không nhớ hả?. Là nhỏ bán túi xách ở Chợ Sài Gòn đó!".
….....
Không ai có thể nói hết Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ. Cũng như không ai có thể nói hết tấm lòng người Sài Gòn.

Đôi khi bạn đi chợ không phải để mua bán gì. Đôi khi, chỉ là để được nghe một câu nói: “Nè cưng! Lâu quá không thấy ghé!”...
-------------------------------------------------------------
* Hình minh họa: Mai Thanh Hải Blog sưu tầm từ Tư liệu TP. Sài Gòn những năm 1960-1970
Nguồn http://maithanhhaiddk.blogspot.com

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Tết Trung Thu bắt nguồn từ đâu?



Tết Trung Thu tại Việt Nam không biết có tự bao giờ, không có sử liệu nào nói rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám. Nhiều người cho rằng đây là một nét văn hóa du nhập từ Trung Quốc trong thời gian Việt Nam bị phương Bắc đô hộ

Ở Trung Hoa, Tết Trung Thu đã có từ thời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), đầu thế kỷ thứ 8. Theo truyền thuyết, sau khi dẹp xong An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng nhớ thương Dương Quý Phi không nguôi. Đêm rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, một vị tiên xuất hiện tình nguyện đưa vua đi gặp quý phi. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chấm mặt đất, nhà vua trèo lên cầu vồng đi lên cung Quảng, nhìn thấy quý phi xưa trong đoàn vũ. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu thưởng trăng nên còn gọi là Tết Ngắm Trăng.

Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được diễn tả trong tục: “ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp”. Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa mà “Tang thương ngẫu lục” đã miêu tả.


Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung Thu, theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris, 1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng (vào cuối tuần trăng). Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì: “Người Lạc Việt cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa thu là mùa của thành hôn.

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi” (bia chùa Đọi 1121), người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu

Theo sử sách, Tết Trung thu đã có cách đây ít nhất 2.000 năm. Từ thời cổ xưa, các vị vua chúa có tục lệ tế mặt trời vào mùa xuân, tế mặt trăng vào mùa thu.

Theo Âm lịch, ngày 15 tháng 8 là chính giữa mùa thu được coi là ngày "lành" để làm lễ tế thần mặt trăng.ở nước ta và một số nước châu á khác, ngày 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm được lấy làm ngày Tết Trung thu. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp Tết Trung thu đã có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, cách đây trên 1.000 năm. Trong đêm 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh "đoàn viên", bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà.

Đêm Trung thu, các em rước đèn, múa sư tử. Ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là múa lân. Lân còn gọi là kỳ lân. Kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh: long (rồng), lân, qui (rùa), phụng (phượng hoàng). Lân là con vật thần thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng.

Tục truyền, lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được. Thoạt nhìn, đầu lân giống đầu sư tử. Do vậy, người ta gọi múa lân thành múa sư tử. Ở một vài địa phương, có tục các em rước đèn kéo quân trong dịp Tết Trung thu. Đèn kéo quân hình vuông, cao khoảng 80cm, rộng mỗi bề khoảng 50cm. Bốn mặt đều phết giấy Tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sặc sỡ. Bên trong có một tán giấy hình tròn. Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên, tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu (nến), đèn tắt thì các tán không quay nữa. Đèn có bốn mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được.

Trẻ em rất thích ăn bánh Trung thu, múa lân và rước đèn kéo quân. Từ đó, Tết Trung thu nghiễm nhiên trở thành Tết của các em từ hàng ngàn năm nay.
Nguồn http://vn2z.net