trang

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Tết Trung Thu bắt nguồn từ đâu?



Tết Trung Thu tại Việt Nam không biết có tự bao giờ, không có sử liệu nào nói rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám. Nhiều người cho rằng đây là một nét văn hóa du nhập từ Trung Quốc trong thời gian Việt Nam bị phương Bắc đô hộ

Ở Trung Hoa, Tết Trung Thu đã có từ thời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), đầu thế kỷ thứ 8. Theo truyền thuyết, sau khi dẹp xong An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng nhớ thương Dương Quý Phi không nguôi. Đêm rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, một vị tiên xuất hiện tình nguyện đưa vua đi gặp quý phi. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chấm mặt đất, nhà vua trèo lên cầu vồng đi lên cung Quảng, nhìn thấy quý phi xưa trong đoàn vũ. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu thưởng trăng nên còn gọi là Tết Ngắm Trăng.

Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được diễn tả trong tục: “ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp”. Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa mà “Tang thương ngẫu lục” đã miêu tả.


Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung Thu, theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris, 1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng (vào cuối tuần trăng). Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì: “Người Lạc Việt cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa thu là mùa của thành hôn.

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi” (bia chùa Đọi 1121), người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu

Theo sử sách, Tết Trung thu đã có cách đây ít nhất 2.000 năm. Từ thời cổ xưa, các vị vua chúa có tục lệ tế mặt trời vào mùa xuân, tế mặt trăng vào mùa thu.

Theo Âm lịch, ngày 15 tháng 8 là chính giữa mùa thu được coi là ngày "lành" để làm lễ tế thần mặt trăng.ở nước ta và một số nước châu á khác, ngày 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm được lấy làm ngày Tết Trung thu. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp Tết Trung thu đã có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, cách đây trên 1.000 năm. Trong đêm 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh "đoàn viên", bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà.

Đêm Trung thu, các em rước đèn, múa sư tử. Ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là múa lân. Lân còn gọi là kỳ lân. Kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh: long (rồng), lân, qui (rùa), phụng (phượng hoàng). Lân là con vật thần thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng.

Tục truyền, lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được. Thoạt nhìn, đầu lân giống đầu sư tử. Do vậy, người ta gọi múa lân thành múa sư tử. Ở một vài địa phương, có tục các em rước đèn kéo quân trong dịp Tết Trung thu. Đèn kéo quân hình vuông, cao khoảng 80cm, rộng mỗi bề khoảng 50cm. Bốn mặt đều phết giấy Tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sặc sỡ. Bên trong có một tán giấy hình tròn. Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên, tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu (nến), đèn tắt thì các tán không quay nữa. Đèn có bốn mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được.

Trẻ em rất thích ăn bánh Trung thu, múa lân và rước đèn kéo quân. Từ đó, Tết Trung thu nghiễm nhiên trở thành Tết của các em từ hàng ngàn năm nay.
Nguồn http://vn2z.net

TRUNG THU NGÀY XƯA VÀ BÂY GIỜ


[06.09.2011 08:16 - Nhịp Cầu Thế Giới Online]
(NCTG) Buổi sáng mùa thu trong lành, ngồi ở một quán café nhỏ và yên tĩnh giữa một khu vườn rộng và chợt nghe: tùng rinh rinh cắc tùng rinh rinh. Ngẩn người và vội vàng xem lịch, chỉ còn 2 tuần nữa là Trung thu về rồi.

Quà Trung thu thời bao cấp - Ảnh tư liệu

Dường như mỗi tuổi mỗi khác. Những háo hức ngày xưa giờ nhường chỗ cho những băn khoăn không biết mua bánh hiệu gì biếu khách, mua quà gì cho con nhân ngày Trung thu khi hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng chúng đều có những món quà từ bố mẹ, ông bà, người thân hay đôi khi còn là từ những người bạn của bố mẹ.

Ký ức chợt ùa về. Những trống con, những đầu sư tử, những đèn ông sao lấp lánh trong đếm trăng rằm ở khu tập thể mờ mờ vì điện yếu ngày xưa. Trẻ con ngày ấy đợi Trung thu trước cả tháng. Thu thập hạt bưởi, xiên dây thếp, phơi khô đợi đúng đêm trăng rằm, tẩm tý xăng làm mồi rồi đốt. Khói khét lẹt nhưng nụ cười thì bừng sáng. Đôi khi, lấm lem cả những vệt đen đen trên tay, khẽ quệt lên mặt và đứa nọ nhìn đứa kia phá lên cười – tưởng như chỉ có bạn mới đang là hề.

Trung thu ngày xưa, bánh nướng bánh dẻo chẳng ê hề, chẳng có nhiều sự lựa chọn như bây giờ. Không có bánh trên mẹt nếu chưa đến rằm tháng 8. Khác với bây giờ, chỉ cần thích ăn, thèm ăn hay muốn ăn là có thể chạy ra đầu phố, mang về một chiếc tùy sở thích. Nào là nhân đậu xanh thập cẩm – nào là nhân vi cá – nào là nhân khoai môn trứng mặn hay bây giờ còn có cả những loại dành riêng cho những người ăn chay – những người mỡ máu (chứng bệnh của sự thừa chất). Ngày xưa, chỉ có bánh nhân thập cẩm và bánh chay. Đôi miếng mứt bí, dăm ba vụn thịt, vài sợi dừa bào và đôi chút hạt dưa lột vỏ cùng đôi lát lá chanh thái mỏng, thật nhỏ. Thế mà sao thấy thơm thế, ngon vậy và thèm thuồng khẽ cắn từng miếng, chỉ sợ sẽ hết chẳng còn gì nhâm nhi.


Một cửa hàng Trung thu ở Hà Nội năm 1987
- Ảnh tư liệu

Trung thu ngày xưa, có quả bưởi già rám nắng mùa thu xếp cạnh đôi quả hồng ngâm nhiều khi vẫn còn chát. Thêm ba bốn lạng cốm xanh bày trên ban thờ rồi cả nhà quây quần bên nhau chờ lúc trăng lên đỉnh đầu cũng phá cỗ. Người già – bố mẹ ngồi bên nhau ngắm trăng, nhấp ngụm trà xanh, nhẩn nha miếng bánh và chuyện trò rôm rả. Trẻ con tung tăng bên nhau, rước đèn quanh xóm. Đứa nào nhà có điều kiện thì có đầu sư tử, ít hơn có đèn ông sao, ít hơn tý nữa thì có bơ sữa bò đục lỗ, xâu thêm dây thép và một chiếc que, thắp thêm ngọn nến là có thể xách đi tung tăng xóm.

Cả đoàn đến vài chục đứa trẻ đi dọc xóm, hát vang những bài chỉ dành cho Trung thu, cho mùa thu. Nào là: chiếc đèn ông sao sao năm cánh tươi màu, nào là Tết Trung thu em rước đèn đi chơi… Vài vòng quanh xóm rồi ghé lại sân một nhà nào đó, ngồi nghe người lớn kể chuyện sự tích chú Cuội – nghe xong cả lũ cố nhìn lên mặt trăng và tưởng tượng: chỗ nào có cây đa, chỗ nào có chú Cuội và chỗ nào có chị Hằng. Trăng rằm tháng 8, trong như cái mâm, sáng rõ trên nền trời bởi vì phía dưới không có đèn cao áp, không có đèn pha ô tô hay những ánh đèn điện rõ mồn một. Tuổi thơ ngày ấy, sáng bừng trong đêm chỉ nhờ ánh trăng rằm.


Trung thu thời hiện tại: hàng hóa ê hề - Ảnh: B.H. (“VnExpress”)

Trung thu bây giờ đường phố ồn áo và náo nhiệt. Nhưng là những vội vàng chọn quà đi biếu xén; là ồn ào góc phố vì tiếng còi xe, ánh đèn pha loang loáng. Là những hững hờ với đèn ông sao bởi vì trông rõ là thô kềnh kệch khi xếp cạnh những búp bê Barbie hay siêu nhân Ben 10. Trống cơm e dè nép vào một bên để cho đèn lồng chạy bằng pin, lại còn phát ra nhạc chiếm lĩnh nguyên cả quầy hàng. Đầu sư tử treo cao tít đến khuất cả tầm nhìn vì còn để chỗ cho những mặt nạ nhựa đủ kiểu ăn theo những bộ phim hoạt hình đang thịnh hành trên truyền hình hay những hình thù ma quỷ biến dạng như trong các bộ phim ma của Mỹ.

Đường phố thì vẫn đông, người vẫn đi lại nhưng người trẻ thì ra phố để nhân ngày Trung thu, tụ tập, quậy phá và nô đùa với nhau – chỉ còn những người già ngồi nhà, cố ngước mắt lên tìm ánh trăng rằm nào hắt qua được những tòa nhà cao vút, rọi được xuống những đoạn đường vắng đèn cao áp, thưa người đi lại. Bây giờ, muốn nhìn trăng tròn, muốn thấy ánh trăng dát vàng, có lẽ phải lên núi.

Bóng trăng tròn lướt qua ngọn tre
Trăng lấp lánh ánh vàng xóm quê
Trông trăng thanh sáng ngời, em hát cười
Trăng trông em đang múa hát, trăng cũng cười…
Đan Thảo, Hà Nội tháng 9-2011

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Nhạc Pháp lời Việt : Solenzara nào có Nắng Xuân


Enrico Macias ghi âm Solenzara, bản tiếng Pháp vào năm 1967 (DR)
Enrico Macias ghi âm Solenzara, bản tiếng Pháp vào năm 1967 (DR)
Tuấn Thảo
 
Có những địa danh đi vào huyền thoại nhờ vào bản nhạc, bài ca. Có những thắng cảnh vương vấn tâm hồn một khi đã qua. Syracuse ở Sicilia mê hoặc thấm mềm con tim sắt đá, Capri của Ý say đắm trọn đời tiếng vọng tình ca. Còn Solenzara tại Pháp xao xuyến nỗi niềm lòng người đi xa.
Nằm trên Bờ biển Xà cừ (Côte de Nacre), thành phố Solenzara được liệt vào hàng danh lam thắng cảnh của đảo Corse, ở ngoài khơi miền nam nước Pháp. Tuy chưa từng đặt chân đến nhưng nhiều du khách trên thế giới đều từng nghe nhắc tới địa danh nhờ vào một bài hát ăn khách vào năm 1967.
Người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp là ca sĩ Enrico Macias. Ca khúc của anh tuy rất nổi tiếng trên thế giới nhưng lại không phải là phiên bản chính gốc. Trong nguyên tác, đây là một bài ca của đảo Corse, do nhạc sĩ Dominique Marfisi sáng tác vào năm 1961, tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ.
Sinh trưởng tại Oletta, một ngôi làng ở miền núi hẻo lánh, tác giả Dominique Marfisi (sinh năm 1902 - mất năm 1973) rời đảo Corse đến Pháp lập nghiệp năm ông 18 tuổi. Thời còn nhỏ, ông đã có năng khiếu âm nhạc, học đàn piano với thầy là Michel Costa, một giáo sư trường quốc gia âm nhạc đã về hưu. Tuy giỏi sáng tác, nhưng đối với Dominique Marfisi, công việc soạn nhạc chỉ là một nghề tay trái vì trong hơn 35 năm liền ông làm việc cho Cơ quan kiểm lâm.

Solenzara : bản ngợi ca tình quê hương

 ( Bài Solenzara nguồn Youtube)

Do xa quê mẹ từ lúc ông mới trưởng thành, cho nên sáng tác của ông gắn liền với đảo Corse. Chủ đề ưng ý của tác giả này trước sau vẫn là tình quê hương. Vào năm 1965, ông từng đoạt giải nhì trong cuộc thi sáng tác của thành phố Nice nhờ một tập thơ song ngữ viết bằng tiếng Corse lẫn tiếng Pháp.

Về mặt ca khúc, số lượng bài hát do ông sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ khá nhiều, trong đó có các bài như Sirinata (Dạ khúc) hay U Mio Mulinu (Cối xay đầu làng). Nhưng bản nhạc Solenzara vẫn nổi tiếng hơn cả do đã được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng khác nhau.

Vào năm 1961, tác giả Dominique Marfisi đến tuổi về hưu, dọn nhà về sống luôn trên đảo Corse. Nhân một buổi ăn mừng sinh nhật của một người bạn tại Solenzara, ông tổ chức một bữa tiệc tại quán nhạc Mare e Festa. Cả nhóm bạn rủ nhau đi du thuyền trước giờ ăn tối.

Thuyền vừa ra khơi lúc mặt trời bắt đầu lặn, ánh nắng chiều tà phủ ánh ngân quang, ngả bạc màu sóng biển. Ngoảnh mặt lại nhìn đằng sau lưng khung cảnh nên thơ của một ngôi làng trải khắp chân đồi, ông mới thốt lên câu nói : Không tìm thấy nơi nào đẹp bằng Solenzara (A Solenzara, piu bella un si po sta). Cũng từ giai thoại này mà ông chấp bút viết thành bản nhạc nổi tiếng cùng tên.

Trong vòng nhiều năm, Solenzara là một ca khúc rất thịnh hành trên đảo Corse nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Mãi đến năm 1967, bản nhạc này mới lọt vào tai của ca sĩ Enrico Macias. Do rất thích giai điệu của bài hát, nên anh mới nhờ người khác chuyển dịch lời ca sang tiếng Pháp.

Điệu ru trên vành nôi Địa Trung Hải 

Phiên bản do Enrico Macias ghi âm trở thành một trong những tình khúc ăn khách nhất mùa hè năm 1967. Trong nguyên tác, bản nhạc được đánh bằng một bộ đàn dây, nhưng rõ nét nhất vẫn là đàn mandolin. Khi chuyển thể, bài hát chủ yếu dùng đàn ghita, thông dụng hơn nên càng dễ trở nên phổ biến.

Chỉ một năm sau, nhạc phẩm Solenzara trở thành điệu ru của vành nôi Địa Trung Hải, khi bài ca được đặt thêm lời tiếng Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha. Cuối những năm 1960, bản nhạc có cả lời tiếng Đức, Hà Lan rồi Đan Mạch. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn nữa là phiên bản tiếng Ả rập, Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Ba Tư (tiếng farsi của người Iran).

Một khi du nhập qua các nước này, bài Solenzara do là tên riêng, cho nên biểu tượng của tình quê hương thông qua một địa danh không còn được giữ lại. Phần hòa âm cũng ít dùng ghita và lại nhấn mạnh với bộ gỏ. Trội nhất là phiên bản của Vigen (Barge Khazan), ca sĩ người Iran, còn được mệnh danh là ông hoàng nhạc nhẹ phương Đông.

Có một điều rất lạ là mãi đến năm 1993, tức là hơn ba thập niên sau ngày ra đời, bài hát Solenzara mới được đặt lời tiếng Anh, để trở thành bản nhạc In the Death Car. Lạ lùng hơn nữa, đây là một phiên bản hoàn toàn phá cách do ca sĩ nhạc rock Iggy Pop ghi âm với ban nhạc Goran Bregovic.

Đây là ca khúc chủ đề của bộ phim Arizona Dream của đạo diễn Emir Kusturica từng đoạt giải Gấu Bạc tại liên hoan phim Berlin. Được chuyển đổi theo một nhịp điệu gần giống với reggae, bài hát lại đượm thêm hơi hướng của các bài dân ca du mục. Thành thử ra, thoạt nghe lần đầu, nhiều người nhận thấy là bài ca rất quen thuộc nhưng không nhớ rõ là bài nào.


Khoác thêm lời Việt cho giai điệu đẹp 

Riêng tại châu Á, Solenzara cũng như bài Tombe la neige (Tuyết Rơi) của Adamo nằm trong số những ca khúc Pháp đầu tiên được đặt lời tiếng Nhật, ban đầu không phải là để cho người Nhật hát mà chủ yếu vì các ca sĩ Pháp thời đó đều có cái mốt ghi âm một phiên bản tiếng Nhật từ những ca khúc nổi tiếng của họ, hầu chinh phục dễ dàng hơn thị trường Nhật Bản. Cũng từ xứ hoa anh đào mà nhiều ca khúc tiếng Pháp du nhập Đài Loan, Hồng Kông hay Hàn Quốc.

Còn tại Việt Nam, bài Solenzara được tác giả Phạm Duy ‘‘chuyển ngữ’’ từ tiếng Pháp thành nhạc phẩm Nắng Xuân. Gọi là chuyển ngữ chứ không phải là chuyển dịch vì thật ra lời tiếng Việt không ăn nhập gì với phiên bản tiếng Pháp và càng xa hơn nữa với nguyên tác viết bằng tiếng Corse. Tình quê hương ban đầu đã nhường chỗ lại cho tình yêu đôi lứa và đổi hẳn luôn nhân vật cũng như bối cảnh câu chuyện.

 ( Bài Nắng Xuân - Phạm Duy nguồn Youtube )

Cũng như trường hợp của bài Lạc mất mùa xuân (lời việt của tác giả Lữ Liên đặt theo bài Le Géant de papier), các tác giả Việt Nam mượn một giai điệu đẹp của làng nhạc nước ngoài, để rồi khoác thêm áo mới cho hợp với phong cách và gần gủi với thị hiếu của người nghe nhạc Việt.


Suy cho cùng, Solenzara qua việc ngợi ca phong cảnh tuyệt đẹp của một địa danh, trong mắt của tác giả lại trở thành biểu tượng của tình hoài hương. Bài ca nói lên tất cả những thổn thức rung động của một chàng trai mới lớn khi phải lìa xa mái ấm gia đình, chia tay mối tình đầu đời, khung trời hạnh phúc tuổi thơ. Nhưng do được viết bởi một tác giả đến tuổi về chiều, Solenzara còn là một giai điệu hoài niệm lưu luyến, tiết tấu nặng lòng kẻ đi xa dù vẫn nhẹ nhàng xao xuyến. Tuổi thơ càng ngập tràn kỷ niệm, tuổi cao càng nhức nhối nỗi niềm.
Nguồn RFI

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Uống trà tuyết sơn Suối Giàng


SGTT.VN - Trà tuyết, hay chè tuyết có một hậu ngọt đượm sâu và hương thơm rất đặc trưng cho vùng núi nơi cây trà mọc. Những người sành trà không thể nào không biết đến vị trà tuyết sơn vùng Suối Giàng.
Trà tuyết sơn Suối Giàng có những nét đặc sắc riêng mà ở những vùng trồng trà khác không có được. Những cây trà ở đây có tuổi đời hơn 100 năm còn gọi là trà shan hay trà cổ thụ. Đặc biệt, có những cây trà cổ hơn 300 năm tuổi nằm ở độ cao hơn 1.400m, quanh năm mây mù bao phủ.
Nhiều người khẳng định, để có được thứ trà tuyết sơn hảo hạng, người ta phải tuyển những búp non được hái cẩn thận trong sương sớm. Những búp trà có màu trắng xám, một lớp phấn tựa lông như bông tuyết bao bên ngoài. Tuyết trắng của trà càng nhiều thì trà chất lượng càng cao. Các công đoạn từ lúc hái đến tuyển chọn, sao khô đều dùng phương pháp thủ công truyền thống của người Mông để cho ra sản phẩm hội tụ cả ba yếu tố hương thơm, vị đậm, nước trong xanh. Đặc trưng của trà shan tuyết Suối Giàng không lẫn với các vùng trà nào khác. Riêng công đoạn sao thì bắt buộc phải dùng lửa từ củi gỗ rừng chắc thớ và người sao phải ước lượng nhiệt độ bằng tay thì nước trà mới xanh. Sau khi sao xong, những búp trà xoăn lại bằng hạt đậu xanh, long tuyết phủ trắng, mang hương thơm độc đáo của tuyết trà.
Một số nghiên cứu cho rằng trong trà sơn tuyết cổ thụ có hàm lượng polyphenol rất cao và phong phú, hữu ích cho sức khoẻ và sắc đẹp nếu uống thường xuyên và đúng cách. Ngoài ra, trà tuyết còn giúp da chống lão hoá, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, xơ cứng động mạch và giúp tan mỡ giảm cân, phòng chống suy thận, bệnh tim và cao huyết áp… Khi pha trà, lấy một lượng búp vừa đủ pha một ấm, người pha dùng nước sôi rót vào từ từ. Nước pha trà phải dùng nước giếng khơi hoặc nước tinh khiết, đun cho sôi già rồi ngắt lửa vài phút. Ấm pha cũng phải dùng loại sứ nung già mới thật sành điệu và trà mới ngon. Đêm trăng ở Sài Gòn ngồi bên ấm trà tuyết sơn, nhấp một ngụm trà sóng sánh như mật ong, nghe vị ngọt, đượm thấm vào cổ họng tưởng đâu cảm nhận được hương vị của núi rừng vùng cao Yên Bái.
bài và ảnh: Như Trần 
Nguồn SGTT