trang

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

Chợ ....Sài gòn


Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng, mọi người đang ngồi và món ăn


Không ai có thể nói hết Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ, cũng như không ai có thể nói hết tấm lòng người Sài Gòn, đôi khi bạn đi chợ không phải để mua bán gì, đôi khi chỉ là để được nghe một câu nói: “Nè cưng, lâu quá không thấy ghé”, đi đến đâu ở Việt Nam thì chỗ đầu tiên bạn được khuyên nên đến thăm chính là cái chợ.

Ở đó có những thứ bạn cần cho một chỗ ở mới, có các sản vật từ thiên nhiên đến nhân tạo và hơn hết thảy, ở đó đặc sệt một thứ văn hóa vùng miền... cho dù bạn có thích hay không thì bạn cũng phải ít nhiều hít thở với nó, chia sẻ và gắn bó với bầu không khí ấy, không ai có thể nói hết Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ, ý tôi là chợ chính thức được bản đồ ghi nhận chứ không kể các chợ chồm hổm, chợ chiều, chợ chạy, chợ chìm, chợ đen, chợ… búa.


Sài Gòn nhiều chợ kinh khủng, từ lớn lớn như chợ Lớn, chợ Bến Thành, chợ An Đông đến nho nhỏ như cái chợ phường, chợ xóm, từ chợ bán buôn từng mặt hàng riêng biệt như chợ vải, chợ cá, chợ rau, chợ hóa chất, chợ phụ tùng… đến những cái chợ bán hầm bà lằng xắng cấu như chợ nhỏ, chợ dân sinh..

Dù là chợ gì thì luôn đậm đặc không khí của một Sài Gòn, năng động, tình cảm và phóng khoáng.Người ta lo ngại cho số phận những cái chợ một khi hệ thống siêu thị bán lẻ tràn ngập khắp thành phố, các siêu thị càng ngày càng lớn, hàng hóa đa dạng, dịch vụ hoàn hảo và rất nhiều tiện ích khác.

Nhưng chợ vẫn còn đó, dù vẫn nóng, vẫn dơ, vẫn ồn áo và náo nhiệt, nhưng vẫn không ít khách hơn là mấy, có lẽ vì người ta đi chợ đôi khi không phải để mua hàng, người ta đi chợ như đi thăm người quen vậy, ở đó luôn có thứ tình cảm mà ở siêu thị không có, có lẽ vì người ta đi chợ không phải vì giá ở chợ rẻ hơn, người ta đi chợ để được gặp nhau, được nghe, được nói, được chào hỏi…

Ở Sài Gòn, khi vô trong chợ bạn được coi như người nhà, người ta kêu bạn bằng đủ thứ tên hoặc đại từ nhân xưng. Nếu bạn còn trẻ, bạn thường được gọi là “cưng”, “con”, “em gái”, “chế” hoặc kêu những cái tên do người ta đặt ra như “chị Hai, cô Ba”... Còn nếu lớn tuổi bạn có thể được gọi là “má”, “ngoại” hay “gì Hai, thím Hai” rồi xưng con ngọt xớt.

Ở Sài Gòn, khi đi chợ bạn luôn nhận được những tiếng mời chào dễ thương đến nỗi cho dù có đủ gan từ chối bạn cũng không thể không mỉm cười cảm ơn: “Nè cưng, ngồi xuống ăn ly chè mát đi”, hay: “Má ơi, vô đây con thử đôi guốc này coi vừa chân không má, không mua cũng được”…Nếu là đàn ông đi chợ với vợ thì bạn cũng được chào mời dù biết bạn chẳng mua gì: “Em trai ngồi ghế chơi đi để chị chọn đồ cho bà xã hen, uống café không để chị kêu”.

Nếu vô coi hàng rồi mà không ưng ý thì cũng đừng ra mặt kẻo người bán họ buồn, nếu không ưng thì cứ cảm ơn rồi đi, bạn sẽ vẫn nhận được nụ cười tươi như khi bạn đến: “Bữa khác ghé lại nghen mấy cưng”.Ở Sài Gòn đi chợ phải ăn mới đúng điệu, chợ nào cũng có hàng ăn, ngay trong chợ hoặc phía sau, bên hông, hoặc giả đâu đó mà bạn không cần biết.

Hàng quán đôi khi xập xệ và tạm bợ lại còn trông hơi mất vệ sinh vậy chớ ăn ngon lắm, đồ ăn nóng hổi và đầy đủ gia vị.

Thường mỗi hàng một món, có chỗ chuyên bán nước, có chỗ chỉ bán đồ ăn sẵn, nhưng đừng ngại, bạn có thể ngồi ở hàng phở mà kêu tô bún bò cũng có người bưng tới, có thể ngồi ở hàng café mà kêu cơm tấm cũng được phục vụ vui vẻ, cũng có chỗ thì thì bạn có thể uống trà đá miễn phí, đến đã khát thì thôi.

Có lần tôi đi ngang một chỗ bán quần áo ở chợ Bến Thành, thấy chị bán hàng đang ăn bún riêu, tôi buột miệng nói: “nhìn ngon quá”, chị ngước mặt đầy mồ hôi nhìn tôi sởi lởi: “ngon dữ, ăn không, ngồi đây đi em trai, chị kêu vô cho, một phút có liền, ăn đi chị bao mà”.

Từ đó tôi là khách của bà bán bún riêu chợ Bến Thành, lần nào ghé cũng 2 tô đúp, tôi có thể nói ai đi chợ Bến Thành mà chưa ăn bún riêu của bả thì coi như chưa biết chợ Bến Thành vậy.

Đi chợ ở Sài Gòn cảm giác lạ lắm, người bán luôn tìm cách làm vừa lòng bạn như không hề vụ lợi, ở chợ bạn được coi như thân tình, như bà con, như bạn bè, bạn có thể trao đổi với người bán về chuyện học của con bạn hay chuyện ông hàng xóm khó chịu của bạn, bạn luôn được lắng nghe và chia sẻ, bạn luôn được động viên và giúp đỡ rất chân tình.

Nếu bạn đang ở hàng quần áo và sực nhớ là muốn tìm một bộ chén thì người bán quần áo sẽ dẫn bạn tới chỗ bán sành sứ và giới thiệu rằng bạn là anh/chị/em/bà cô/ bà dì của họ…rằng bạn phải được mua giá sỉ, rằng bạn là VIP… bạn nghĩ tất cả chỉ là hình thức ư, không hề, thiệt tình đó bạn và bạn không bao giờ cảm thấy phiền vì điều đó, cho dù có mua phải một món hàng bị hớ giá hoặc tìm không ra món đồ mình thích.

Bạn sẽ luôn nhận được những món quà bất ngờ cho dù bạn không đòi hỏi, mua chục trái cây được mười lăm, mười sáu trái, mua hai cái áo tặng thêm cái nón, mua có cái bóp được đãi ly cafe... không phải hàng khuyến mãi đâu bạn, đó là tấm lòng, hãy nhận bằng cả tấm lòng.

Có lần tôi mua một sợi dây nịt với giá 200 ngàn, khi đi một vòng tôi phát hiện cũng sợi dây nịt đó được bán chỗ khác với giá 120 ngàn, tôi quay lại cười với gã bán: Nè anh, sợi dây này bên kia bán có trăm hai, sao nãy anh bán tôi hai trăm? Gã cười xềnh xệch: Chắc em lộn giá, thôi để em đền anh cái bóp xịn hen, bóp này hàng hiệu luôn, giá tới năm trăm đó. Tôi coi cái bóp thấy cũng ưng ý, dù biết tỏng nó chưa tới tám chục, cũng vui vẻ cầm.

Sau này mỗi lần ghé, gã đều nói, anh cứ đi một vòng, chỗ nào bán rẻ hơn em đền anh gấp đôi, còn bao anh café nữa, thiệt, nói vậy chớ tôi chẳng hỏi ai bao giờ, tôi tin gã.

Vợ chồng tôi trước có hay mua đồng hồ ở cổng chợ Bến Thành, mỗi lần một cặp. Sau này mỗi lần đi vô chợ là chị bán đồng hồ lại kêu lại, nói, thằng Hai, chị để dành cho tụi em cặp này bữa giờ, đẹp lắm, giá gốc luôn, hàng xịn đó.

Lần nào cũng một cặp nữa, riết không dám đi cổng chính, toàn quẹo vô chợ từ bên hông chợ, vì đi cổng chính thể nào cũng mua một cặp, không thể từ chối chị được.

Có lần chúng tôi đi du lịch, vợ tôi gặp một phụ nữ khác cũng đi với gia đình, cô bạn kia cũng chào tôi và tỏ ra mừng vui không xiết, thế là hai bên xúm lại, trò chuyện, giới thiệu chồng, con, gia đình rồi cùng ăn uống vui vẻ, tôi cứ nghĩ đó là một cô bạn thân của vợ tôi mà tôi chưa biết.

Sau khi chia tay nhau và cùng hẹn sẽ đi Thái Lan, tôi hỏi lại vợ xem bạn này là thế nào thì vợ cười ha hả, anh không nhớ hả, là nhỏ bán túi xách ở chợ Sài Gòn đó.…Không ai có thể nói hết Sài Gòn có bao nhiêu cái chợ.

Cũng như không ai có thể nói hết tấm lòng người Sài Gòn.

Đôi khi bạn đi chợ không phải để mua bán gì, đôi khi chỉ là để được nghe một câu nói: “Nè cưng, lâu quá không thấy ghé”.
Sưu tầm

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười, mọi người đang ăn, mọi người đang đứng và món ăn

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ăn và món ăn

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, ô tô và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ăn, mọi người đang ngồi, mọi người đang đứng và món ăn

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, món ăn

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

Saigon Xưa - Địa danh tôi yêu




Ông Bà ta vốn đa số là nông dân nên nơi sanh chốn ở được thể hiện từ Ruộng Vườn như: Vườn Bầu, Vườn Bông, Vườn Cau, Vườn Chanh, Vườn Chuối, Vườn Dừa, Vườn Điều, Vườn Lài, Vườn Mít, Vườn Ngâu, Vườn Nhãn, Vườn Thơm, Vườn Trầu, Vườn Xoài,…hoặc từ Lò ở trước: Lò Bột, Lò Bún, Lò Chén, Lò Da, Lò Đúc, Lò Đường, Lò Gạch, Lò Gang, Lò Gốm, Lò Heo, Lò Lu, và Xóm: Xóm Bột, Xóm Bưng, Xóm Cải, Xóm Chiếu, Xóm Chùa, Xóm Cối, Xóm Củi, Xóm Dầu, Xóm Đình, Xóm Lụa, Xóm Mới, Xóm Quán, Xóm Than, Xóm Thuốc, Xóm Trại, Xóm Trĩ, Xóm Ve Chai,…

Về ngữ âm, tiếng Sài Gòn nói riêng Nam Bộ nói chung mang một số nhược điểm: lẫn lộn một số phụ âm đầu nên một số địa danh cũng ảnh hưởng, bị sai lạc về chánh tả, như trong ngã tư Hàng Xanh (cây sanh), khu Cây Da Xà (Da Sà), Giồng Ao (Vồng Ao), …Một số địa danh bị sai lạc về vần: Cát Lái (Các Lái), Gò Vấp (Gò Vắp - cây vắp là loại cây lớn và thân rắn chắc nên người Pháp dịch là bois de fer, ở đường Trương Định vẫn còn cây nầy), rạch Chung (Chun), Dần Xây (Giằng Xay), Lào Táo (Làu Táu), Thiền Liền (Thiềng Liềng)...
Sai lạc về thanh: Kinh Tẽ (Tẻ), rạch Xẽo Đơn (xẻo, Củ Chi). Sai lạc cả thanh và vần: khu Mả Lạng (Mả Loạn), sông Hào Võ (Hàu Vỏ).
Một số là tên cầm thú: như Chuồng Bò (chợ, quận 10), Trâu (rỏng, Củ Chi), Chuồng Chó (ngã năm, Gò Vấp - vốn là trường quân khuyển từ thời Pháp thuộc đến ngày 30-4-1975). Một số vốn là tên những con vật sanh sống từ thuở hoang sơ: Sấu (rạch, Cần Giờ), Trăn (rạch, Cần Giờ), Hố Bò (kinh, Củ Chi - bò rừng), Voi (rạch, Bình Thạnh), Chó Tru (ngã ba, Cần Giờ - chó sói), Bàu Nai (ấp, Hóc Môn), Hóc Hươu (rạch, Bình Chánh),…Tên các loại cá là đặc sản khá phong phú: Cá Bông (doi đất, Cần Giờ), Cá Lăng (vùng đất, Củ Chi), Cá Heo (rạch, Cần Giờ), Cá Tra (rạch, Nhà Bè), Cá Nháp (sông, Cần Giờ), Cá Nóc (rạch, Nhà Bè), Cá Vồ (rạch, Cần Giờ), Cá Úc (rạch, Nhà Bè), Cá Súc (rạch, Cần Giờ), .v.v..

Một số là tên cây cối như: Bàu Dứa, Gò Xoài, Giồng Đế,… Một số cây là đặc sản của Nam Bộ: Giồng Trôm (Cần Giờ), Cây Quéo , Cây Cám (rạch, quận Nhứt - lá cây có bụi trắng như cám heo), Cây Bướm (rạch, Nhà Bè), Cây Cui (tắt, Cần Giờ), Cây Sộp (ấp, Củ Chi), Cây Gầm (rạch Hóc Môn), Cây Lơn (chợ, quận 9), Cây Nhum (rạch, Củ Chi), Cây Tri (rạch, Bình Chánh), Cây Trường (ngã ba, Gò Vấp), Cây Ủ (bến sông, Củ Chi), Thai Thai (rạch, Củ Chi), Thiềng Liềng (rạch, Cần Giờ), Củ Chi (huyện - cây mã tiền),... Một số có nguồn gốc Khmer: Bến Lức (sông, Rôlưk), Rạch Chiếc (cầu, Cèk), Gò Vấp (quận, Kompắp).....
(Sưu tầm)

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

Nam Mô Di Bố Phù là gì?

Một anh hỏi ,nghe trong bài “Ra giêng anh cưới em” có những câu: “Ngộ kỳ thời, con kiến mới leo dây Nam mô di bố phù Hữu duyên mà thiên lý ngộ Nam mô di bố phù Gặp mặt nhau đây. chốn nầy hò hẹn thủy chung sắt son. Nam mô di bố phạ”


“Nam mô di bố phù” và “Nam mô di bố phạ”là gì?

 Đây là một lời giao duyên của đôi trai gái Nam Kỳ luc tỉnh xưa Chàng và nàng gặp nhau rất là tình cờ rồi nhớ nhau,đính ước nhau ra giêng sẽ cưới

 “Ngộ kỳ thời” là gì? Kỳ ngộ (奇遇) là gặp gỡ đặc biệt
 Thời (時)là lúc,thời gian
 Thư tịch xưa có “Duyên kỳ ngộ” là nó đây “Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng Khác nào như thể phượng hoàng gặp nhau

Tiện đây ăn một miếng trầu
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là?
 Xin anh quá bước lại nhà
Trước là trò chuyện sau là nghỉ chân”
(Ca dao)

 Xin nhắc tới một bài nhạc tổ của đờn ca tài tử Nam Kỳ,bài “Duyên kỳ ngộ”
 “Ngộ kỳ thời”là chàng trai nói về thời điểm cái duyên khi gặp gỡ cô gái
 “Nam mô di bố phù” và “Nam mô di bố phạ”là gì?

 Nam mô là một câu “nguyện cầu” trong Phật giáo Di có 72 chữ -nghĩa khác nhau ,chữ di ở đây có nghĩa 彌 là tràn đầy

 Bố (布)là ban ra, cho khắp,Phật có chữ “bố thí” 布施 cho khắp, cho hết
 Phù (扶) là giúp đỡ.Phù hộ hay phò hộ độ trì là một thuật ngữ trong Phật “Nam mô di bố phù” và “Nam mô di bố phạ”như nhau,phù hay phạ là xuống âm theo nhạc

 Nguyên câu này là anh chàng “cua” được gái tâm đầu ý hợp,thành ra ảnh cảm tạ trời đất ,cầu xin được đem đến phúc lành cho hai người thương nhau

 “Nam mô di bố phù” là một câu Nho học,theo phái Nho gia của câu “Nam Mô A Di Đà Phật”(南 無 阿 彌 陀 佛)
 Nam Mô A Di Đà Phật là câu niệm trong tiếng Phạn : नमो अमित बुद्ध (Namo Amitàbha Buddha)

 Ý nghĩa của 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phậtlà nghiêng mình thành kính đem thân tâm qui ngưỡng Đức Phật A Di Đà
 A Di Đà là một phái Phật có sau khi Phật Thích Ca qua đời ,nó xuất hiện khoảng đầu công nguyên. Tín ngưỡng Amitābha được phát triển cùng với thời kỳ đầu của Phật giáo Đại Thừa khi truyền giáo vào Trung Hoa nên thông dụng ở bên Đại Thừa. Chỉ vậy thôi.

 Nguồn Sưu tầm

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2018

LANG THANG ĐƯỜNG TÔN ĐẢN

Lang thang đường Tôn Đản Ai chưa sống ở đường Tôn Đản, mỗi khi nghe nói tới hai chữ Tôn Đản liền nghĩ ngay tới “du đảng” hoặc đại ca Năm Cam, hoặc một vùng đất dữ dằn của các tay anh chị giang hồ bến tàu. Nói vậy không phải vậy, dù hơn nửa thế kỷ trước Năm Cam thành danh ngay đầu hẻm 148 đường Tôn Đản khi đâm chết tay du đảng cùng xóm tên Lót. Đường Tôn Đản còn có những cái đáng nhớ khác. Sau đây là chuyện kể về một con đường của một Quận nghèo nhất đất "Sài Thành hoa lệ". Thời gian trước và sau 1955, cách đây hơn nửa trăm năm, tức một phần hai thế kỷ,nên chuyện rất xa xưa, xưa như chuyện tình Mộng Cầm-Hàn Mặc Tử. Đường Tôn Đản là con đường chạy xuyên qua một vùng dân cư lao động của vùng Khánh Hội, Quận Tư, Sài Gòn. Đầu đường, nối với đường Trình Minh Thế tạo thành một ngả ba xe cộ lúc nào cũng đông đúc. Cuối đường, gặp đường Tôn Thất Thuyết chạy dọc theo Kinh Tẻ. Bên kia Kinh Tẻ là vùng Tân Qui Đông, thuộc quận Nhà Bè. Đường nầy thời Pháp thuộc có tên “Route de Cần Giuộc”, là một con đường đất ngoại ô Sài Gòn. Về sau được mở rộng, trải đá tráng nhựa phẳng phiu, Tây đặt lại tên đường Matelot Manuel, ban đêm hai hàng cột đèn khí cháy sáng choang, tỏ rõ cái văn minh của kẻ đi cướp nước. Khoảng năm 1956, 1957 không nhớ đích xác, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà sau khi đã thu hồi chủ quyền quốc gia từ tay người Pháp, đặt lại tất cả tên đường trong đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn. Matelot Manuel đổi thành đườngTôn Đản từ đó. Bên các quận khác, mấy ông Tây ... như de Lattre de Tassigny, Bonard, Grimaud (rue Colonel-Grimaud), Jauréguiberry, Kitchener, Chanson (rue Général-Chanson) và nhiều nữa, được mời "xuống tàu về nước". Tôn Đản là ai? Đó là vị phó tướng của tướng quân Lý Thường Kiệt, đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127). Tôn Đản tên thật Nùng Tông Đản, gọi tắt Tông Đản, người dân tộc Nùng. Vì kỵ húy tên vua Thiệu Trị là Miên Tông, nên sử triều Nguyễn viết thành Tôn Đản thay vì Tông Đản. “Năm Ất Mão (1075) Lý Thường Kiệt đem quân sang vây đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông). Đạo quân của Tôn Đản đánh Ung Châu (tức là thành Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây), quan Đô Giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem binh lại cứu Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn Quan (gần Nam Ninh) chém chết Trương Thủ Tiết ở trận tiền. Tôn Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày, quan tri châu là Tô Đạm kiên cố giữ mãi. Đến khi quân nhà Lý hạ được thành, thì Tô Đạm bắt người nhà tất cả 36 người chết trước, rồi tự đốt mà chết”. Từ đầu ngả ba Tôn Đản-Trình Minh Thế (tức đường Jean Eudel cũ), dân nghèo Quận Tư đều biết đến hai tiệm cầm đồ bình dân, khách ra vô nườm nượp. Đầu đường bên tay phải là tiệm mang tên Huỳnh Thị Dậu, nghe tên cũng đoán biết đó là tên chủ nhân. Đầu đường bên tay trái có tiệm Hoà Thành, chiếm hai mặt tiền, một mặt tiền ngó ra đường Trình Minh Thế đón khách từ kho 5, kho 11 lên; một mặt ngó ra đường Tôn Đản. Ai đã từng là dân phu khuân vác bến tàu, chạy xích lô máy, xích lô đạp, xe ba bánh, đánh xe ngựa, học trò nghèo hay làm tư chức miệt Khánh Hội và bên kia cầu Tân Thuận, cầu Hàn mà không là thân chủ của Hoà Thành và Huỳnh Thị Dậu? Tiệm cầm đồ bình dân, ăn lời 3%, còn gọi 3 phân, thuở ấy cái gì cũng cầm được; từ món nữ trang, chiếc đồng hồ đeo tay cho đến bộ đổ "tây", cái quần mỹ a, bộ áo dài, chiếc xe đạp đều có thể biến thành món tiền trang trải trong lúc ngặt nghèo! Qua khỏi tiệm Huỳnh Thị Dậu, là cơ sở sửa tủ lạnh của ông Hai Dung, có đứa con trai tên Bòn, sau nầy nối nghiệp cha, tiệm làm ăn rất phát đạt. Kế đó, có kho hàng hãng Poinsard Veret (*) của người Pháp -chữ nầy lâu quá không bảo đảm viết trúng- sau 1975 thành xí nghiệp bóng đèn Điện Quang. *Poinsard et Veyret (Comptoirs d'Extrême-Orient) Dân Tôn Đản cựu trào chắc không ai quên nhà bảo sanh Lao Động, của bác sĩ Nguyễn Bính Phương. Bác sĩ Phương là anh của nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Tháng 6/1954 , thiếu tá Nguyễn Bính Thinh bị thương nặng trong trận phục kích Binh Đoàn 100 của Pháp tại cây số 15, đèo Mang Yang nên viết văn lấy bút hiệu An Khê. Dù nhà bảo sanh có tên Lao Động, mọi người đều gọi là “Nhà thương Con Cò”, vì lẽ đơn giản phía trước nhà bảo sanh này có gắn hình một con cò đang chắp cánh bay. Tháng 4 năm 1955, Bình Xuyên gây hấn ở Đô Thành, không biết vì lý do gì mà Bác sĩ Nguyễn Bính Phương bị mấy ông kẹ “công an xung phong” của Bình Xuyên bắt thủ tiêu! Đi xuống chưa tới 100 mét, gặp ngã ba Tôn Đản - Đỗ Thanh Nhơn, còn gọi ngã ba Cầu Cống. Có sử gia viết tên ông Đỗ Thanh Nhơn thành Đỗ Thanh Nhân, đó là quyền của nhà chép sử. Chớ thật ra, tên thật của người ta thì nên viết cho đúng, hà cớ gì phải đổi? Trong Gia Định tam hùng theo phò vua Gia Long, ngoài Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp còn ông Võ Tánh. Đường Đỗ Thanh Nhơn nầy, sau 1975 đổi tên thành đường Đoàn Văn Bơ. Ngay đầu ngã ba Tôn Đản - Đỗ Thành Nhơn phía bên trái, có một ngôi chợ nhỏ mang cái tên thật bình dân: chợ Cầu Cống. Chợ nầy càng về sau càng sung, vì dân số Quận Tư càng ngày càng tăng. Có lẽ Quận Tư bao giờ cũng là đất dung thân cho dân nghèo bốn phương tám hướng. Khói lửa chiến tranh khiến biết bao mảnh đời thôn dã phải bỏ ruộng, bỏ vườn trôi giạt về đây tìm một chỗ nương náu. Chợ Cầu Cống đặc biệt hơn các chợ khác vùng Khánh Hội, Vĩnh Hội vì người ta gọi nó tới ba tên mà ai cũng hiểu. Chợ Cầu Cống, chợ Cây Bàng hay chợ Cây Keo đều chỉ ngôi chợ nhỏ đó. Từ cuối đường Tôn Đản, vùng Tôn Thất Thuyết muốn đi chợ Cầu Cống mua thức ăn chỉ cần leo lên xe ngựa, tới chợ trả một đồng bạc. Vô chợ mua một xâu lòng bò cột sẵn giá ba đồng gồm lá sách, tim, gan, phổi và một bó cải ngọt một đồng, chị bán hàng cho thêm hai tép hành không tính tiền. Thế là buổi chiều, cả nhà có bữa cơm ngon miệng, "lòng bò xào cải ngọt" thua gì đi ăn cao lầu Đồng Khánh trong Quận Năm? Tưởng cũng cần giải thích, tại sao gọi chợ Cầu Cống? Nguyên do là sát bên đó, rạch Cầu Chông từ sông Bến Nghé đâm ngang đường Bến Vân Đồn, sau khi quanh co trong những xóm nghèo, ra tới đường Tôn Đản, băng ngang một cái cống lớn xây bằng xi măng rồi tiếp tục chảy về vùng kho 11. Bên cạnh cống, có cây keo thân lớn xù xì, không biết trồng từ đời nào. Loai keo nầy cho trái màu xanh, lúc chín màu đỏ, ăn có vị ngọt, trẻ em rất thích. Thập niên 50, những chiếc ghe mía từ Cầu Ông Lãnh qua hoặc ghe chở nước uống, neo đậu tại miệng cống, bán hết mía, đổi hết nước mới về. Ông bà ngày xưa, cứ "thấy mặt đặt tên", nào là Xóm Gà, chợ Cây Thị, chợ Cây Sa Sà, Xóm Lu rồi Cầu Ba Cẳng, chợ Cầu Cống thật dễ hiểu, dễ nhớ cũng rất thân thương! Thời gian về sau, dân cư càng ngày càng phát triển đông đúc, nhà sàn lấn dần dòng chảy, rạch Cầu Chông chịu chung số phận với những con kinh nước đen của Sài Gòn và Gia Định. --Tiffany Nguyen

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Vài dòng ngày giỗ Mẹ

Mẹ ơi, lại thêm một lần giỗ của mẹ . Trời hôm nay không một chút nắng nơi vùng đất Long An này mà con đang sống . Con đứng đây, chơi vơi giữa đất người xa lạ mà giờ đây con phải làm quen và coi nó như mảnh đất của chính mình !

Vậy là đã bao mùa mẹ đi xa để rồi con về đây nơi con được sinh ra và lớn lên trong con hẻm chật chội ở Quận Tư ,  luôn thấy hình bóng mẹ lẩn quất đâu đây, bên con, dưới hiên nhà con đang đứng ! Hôm nay, con về cùng các cháu của Mẹ , con đậu xe bên một con đường nhỏ, ngắm nhìn xe cộ vượt qua ! nhìn cây Bồ đề sau nhà ( nay là trước nhà ) , bỗng dưng một kỷ niệm xa xưa trổi dậy ùa về ! sau nhà mình dạo ấy có một cây cầu nhỏ nối liền các nhà sàn gổ trên một con rạch Câu Chông ra kênh Tàu hủ. Ngày xưa con rạch đó rất sạch , tuổi thơ của con đã từng nhảy xuống tắm trên con rạch ấy , cùng các bạn trang lứa tung tăng trên cây cầu gổ thả diều , chia từng phe đánh trận giả  ...  Hồi ấy, con còn bé tí mẹ nhỉ, chỉ biết ăn học và chơi đùa . Có những lần đánh lộn thật với bạn mẹ đã kêu về  , cầm roi trên tay mà nước mắt mẹ chảy xuống , lúc ấy mẹ nhìn thấy con khóc thì mẹ không nờ ra tay  , và con nhận ra ánh mắt giận dữ của mẹ, nhưng khi nhìn thấy vết máu loang lổ trên tay con thì mẹ đã bế con vào lòng và chạy ùa vào lấy bông và nước rửa cho con !

Nuôi dạy con cái thật khó phải không mẹ ! Đến bây giờ khi mà con đã có con, các cháu của Mẹ đã lớn và con chứng kiến từng ngày sự lớn khôn của chúng ! Hẳn chúng cũng như con ngày xưa và con bắt đầu học được tính kiên nhẫn từ mẹ. Tuổi thơ nhiều khi làm mà không lường hết những hậu quả. Nhiều lúc các con của con đã làm những việc không đúng, khiến con bực mình và định quát mắng chúng, nhưng những lúc như vậy, con lại như nhìn thấy ánh mắt cương nghị nhưng cũng tràn đầy tình âu yếm của mẹ. Con lại dịu xuống. Nhiều lúc không dừng được, con lấy roi quất chúng một cái, tiếng khóc của chúng khiến con đau đớn, nhưng quay đi để cố giấu những giọt lệ ! Mẹ đã từng nói không được mềm yếu trước mặt người khác, với các con thì càng không. Nuôi dạy con cái phải biết thưởng phạt công minh !

"Tánh Lười biếng còn buồn hơn cả khổ con ạ", mẹ đã nói như thế khi con thấy mẹ lúc nào cũng quần quật làm việc ! Mẹ ơi, cùng với năm tháng con lớn lên, trưởng thành hơn và ngẫm nghĩ về những câu nói của mẹ. Những câu nói bình thường được chắt chiu từ cuộc sống lam lũ của mẹ đôi khi con thấy chúng còn thiết thực hơn cả những câu châm ngôn hay những câu nói cao siêu của các nhà hiền triết !

Con rất nhớ mẹ, mẹ ạ. Trong đầu con lúc này trỗi dậy bao hình ảnh của mẹ. Hình ảnh mẹ ngồi bán nới góc hẻm gần nhà những chiếc rổ tre đựng trái cây để bán, hình ảnh mẹ đêm đêm hí hoáy sửa những bộ quần áo cũ, cảnh mẹ sáng sớm ra chợ mua đồ về để bán , cảnh mẹ sắp bàn và những rổ tre bày trái cây lẻ , cảnh mẹ lo cơm cho các con ăn…  Nhiều lắm mẹ ạ, con làm sao kể hết !

 Đời mẹ tần tảo quá nhiều và gánh chịu bao đau thương. Còn con, có lẽ số phận đã trả công cho mẹ bằng cách cho con được hưởng nguồn hạnh phúc. Tiếng cười của con và các cháu của mẹ là nguồn hạnh phúc vô tận của con , nhờ đó khi con lao vào làm việc mà không hề kêu la !  Con đôi lúc cũng cảm thấy buồn lòng ! Chính cha mẹ đã sinh ra con và nuôi con đến lúc trưởng thành, khi con chập chững bắt đầu đầu bay được bằng chính đôi cánh của mình, thì cha mẹ không còn nữa, con đã chẳng báo hiếu gì được cho cha mẹ !

"Công việc khiến con cảm thấy cuộc sống không nhàm chán!" mẹ cũng đã nói thế ! Vâng, và bây giờ con đã chiêm nghiệm được điều ấy ! Hãy vui nha mẹ, vì con đã theo đúng và tiếp tục con đường xưa mà con đã chọn. Ngày đó, con đường mà con chọn, theo mẹ là gập ghềnh, đầy gian truân và xa thẳm mù khơi, vậy mà con đã đi và đã tới, con đã ít nhiều thành công và vẫn tiếp tục ! Ôi ! Giá mà mẹ còn, hẳn mẹ sẽ hài lòng vì con, đứa con trai bướng bỉnh và luôn quậy phá nhưng luôn nghe lời mẹ…

Ngồi tâm sự với mẹ, khiến lòng con ấm lại, con như trút được bao u ám của buổi chiều mây mù, sương giăng giăng tối mờ khắp ngả ! Con biết, mẹ vẫn luôn đi theo con, đúng không ! Mẹ ở đây, mẹ ở kia…
Mùa giỗ mẹ con về đây đốt nén hương bên bàn thờ Mẹ , đứng trước hiên nhà mình dõi mắt nhìn lên trời cao, con thả tâm hồn mình về nơi ấy, con thành kính mong muốn hương hồn ba mẹ  luôn phiêu diêu nơi chín suối. Hãy thanh thản và bình an, mẹ nhé !

Con của Mẹ

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Nhớ Mẹ trong Lể Vu Lan

Chúng ta sinh ra, trưởng thành, tuổi già đến, bệnh tật rình rập, rồi cái chết đón chúng ta trở về  cõi vĩnh hằng, trở về với đất mẹ, trở về với cát bụi, đó là một qui luật bất biến của tạo hóa. Ai cũng phải vui vẻ đón nhận qui luật ấy một cách tự nhiên.


Từ ngày mẹ tôi mất đến nay, thắm thoát mà đã 20 năm rồi , mỗi năm về thăm nghĩa trang, viếng mộ mẹ, tôi thấy có những ngôi mộ mới, hoa vẫn còn tươi, hỏi ra mới biết toàn là những người con của làng vừa mới ra đi. Sự ra đi của mỗi người đều có nguyên nhân khác nhau, người trẻ tuổi thì mất do tai nạn giao thông, người trung niên thì do uống quá nhiều rượu dẫn đến ung thư gan, những người khác đều mắc chứng bệnh ung thư, sau cái mất của mẹ, tôi liệt kê những người đã khuất sau mẹ, rất nhiều người bằng tuổi mẹ, dưới tuổi mẹ và trên tuổi mẹ một chút đều ra đi do chứng bệnh ung thư quái ác hoành hành. Xã hội ngày càng phát triển, kinh tế khấm khá hơn trước, đời sống sung túc hơn trước, tuổi thọ gia tăng hơn trước, dân số Việt Nam đang già đi.

Nhưng tất cả cũng không vượt qua được quy luật của loài người là sinh , lão , bệnh , tử . Có lẽ tôi cũng theo quy luật đó , khi mà năm nay tôi đã 50 tuổi rồi , cái tuổi mà ngày xưa các cụ làm lễ ra đinh .

Nhớ ngày xưa khi còn trẻ thơ hình bóng mẹ và ký ức luôn ngập tràn trong tâm , rồi đến khi mẹ mất khiến cho tôi và tất cả anh chị em trong gia đình đều bàng hoàng . Dù biết rằng căn bệnh ung thư quái ác đã cướp đi một người mẹ mà tôi hằng yêu quý . Ngày mẹ mất tôi và cả anh chị em tôi cũng đã khóc rất nhiều , nhưng có lẽ tôi là người khóc nhiều nhất , bởi vì trong thâm tâm tôi đã rất hối tiếc không được báo hiếu cho mẹ khi mà tôi bắt đầu làm nên sự nghiệp cho riêng mình . 

Nhớ lại khi xưa mẹ đã tần tảo buôn bán lo lắng cho đàn con chúng tôi , nói đàn con là chính xác , tôi là người con thứ mười theo cách gọi người miền Nam ( đứa con thứ chín ) , sau tôi còn ba đứa em nữa . Mẹ đã làm tất cã cho những đứa con của mẹ , mẹ hy sinh rất nhiều , nuôi cho con khôn lớn nên người , mà điều đáng quý nhất là tất cã những đứa con của mẹ không ai hư hỏng cả , ai cũng nên người , có công ăn việc làm . Có điều khi các con trưởng thành và làm ăn khấm khá thì lúc đó mẹ lại vĩnh viển ra đi .

Mỗi lần về quê, bên mộ cha và mẹ , tôi có rất nhiều điều muốn tâm sự những gì mà cuộc đời con đã đi qua ,những khó khăn khi làm cha của những đứa con của tôi , những thăng trầm trong cuôc sống với mẹ , không biết mẹ nơi suối vàng có lắng nghe được những lời tâm sự của con không .

Cả đời mẹ lam lũ , ngồi một góc trong khu xóm lao động ở quận Tư , Sài gòn  buôn bán lẻ kiếm từng đồng nuôi các con , mẹ tôi là một người hiền lành nên mẹ đã để lại trong lòng nhiều người những tình cảm tốt đẹp và sự tiếc thương bằng chính nhân cách của mẹ. Mẹ luôn luôn  chịu phần thiệt thòi trong các quan hệ, kể cả với họ hàng nội ngoại cũng như hàng xóm, láng giềng. Mẹ thường khuyên chúng tôi hãy sống trung thực, mẹ lấy nhiều dẫn chứng để chứng minh cho luật nhân quả, chúng tôi thấm thía những bài học mẹ đã dạy. Mẹ ra đi vĩnh viễn rồi! Nhưng những gì mẹ dạy dỗ chúng con, chúng con sẽ mãi khắc ghi trong lòng, và mỗi anh em chúng con sẽ gắng thực hành những điều mẹ dạy bảo.

Mùa Vu lan năm nay đã là năm thứ hai mươi anh em chúng tôi không còn mẹ, nỗi đau không gì bù đắp nổi, không còn mẹ u ấp mới thấy trong lòng mình rất trống trải, sự thiếu vắng mẹ là những tổn thất lớn về tinh thần. Mẹ không còn nữa, mùa Vu lan lại đến, con viết những dòng này gửi mẹ ở nơi xa thẳm hiểu tấm lòng của chúng con đang hướng về mẹ. Cầu chúc cho tất cả cả bà mẹ đang còn sống được bách niên giai lão. Chúc cho muôn nhà bố mẹ, ông bà được trường thọ, con cháu được sum vầy. Mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ, nhiều gia đình hạnh phúc thành đạt, con cháu tứ đại đồng đường, sống có ích, sống vui sống khỏe, là hạt nhân cho đất nước tiến bộ và phát triển, thịnh vượng.

Gương hiếu hạnh của Đức Mục Kiền Liên



Hôm nay là ngày Lễ Vu Lan, 15 tháng bảy âm lịch theo Phật giáo Việt Nam, thokao trích bài "Gương hiếu hạnh Đức Mục Kiền Liên" của Hòa thượng THÍCH THANH TỪ để mọi người cùng đọc.

Ngày lễ này có ý nghĩa rất lớn vì đây là ngày Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ thoát khỏi khổ hình trong địa ngục. Tại sao Ngài Mục Kiền Liên là vị đệ tử của Phật, cũng như bao nhiêu vị A la hán khác nhưng chúng ta lại đặt quan trọng? Bởi vì người Việt Nam lâu nay nặng về chữ Hiếu, tổ tiên ông bà cha mẹ đều lấy chữ Hiếu làm đầu. Gương của ngài Mục Kiền Liên là một gương sáng nói lên lòng hiếu thảo của người con đối với cha mẹ, nên rất thích hợp với Phật giáo Việt Nam.
Cho nên Phật giáo nước ta xem ngày Lễ Vu lan rất quan trọng, để nhắc nhở tất cả Phật tử đều ý thức ngày lễ này là một hình ảnh đẹp, là một tấm gương sáng ngời, chúng ta phải hằng nhớ hằng biết, chớ không thể lơ là được. Người Việt Nam mình tôn trọng chữ Hiếu làm đầu, điều này có sai lệch không? Chắc là không. Bởi vì ai cũng thấy rõ, chúng ta nhờ thừa hưởng sự trao truyền từ cha mẹ mà mình có hình hài, có thân thể này. Sự trao truyền đó là huyết thống, chớ không phải chuyện ở bên ngoài. Cho nên mọi hay dở tốt xấu của chúng ta là niềm vui buồn hay đau khổ của cha mẹ. Bổn phận làm con không bao giờ quên ơn cha mẹ, bởi vì thâm ân đó không thể nào chối cãi, không thể nào từ bỏ được.

Người nào thấy cha mẹ già có vẻ lẩm cẩm một chút mà xem thường cha mẹ là có lỗi lớn. Dù cha mẹ lẩm cẩm bao nhiêu đi nữa, nhưng chúng ta cũng nhớ rằng bản thân mình là một phần của thân thể cha mẹ, không thể tách rời, không thể đứng riêng, dù muốn chối bỏ cũng không chối bỏ được. Thân này đã là của cha mẹ mà mình phụ rẫy, vong ân thì điều đó thật vô nghĩa, không xứng đáng là một con người. Do đó lòng hiếu thảo đối với chúng ta là một chân lý. Trên thế gian này không có ân nào quý trọng và cao cả bằng ân cha mẹ. Nếu ân cao cả như vậy mà chúng ta quên đi thì những ân thường trong xã hội, ân của bạn bè giúp đỡ, chúng ta làm gì biết ơn và đền ơn.

Như vậy muốn thành người tốt, có đạo đức, trước tiên phải là người con hiếu thảo. Người Phật tử không phải tu theo Phật để chỉ cầu giải thoát sanh tử thôi, mà còn tu trong bổn phận làm người, trong đó cha mẹ là trên hết. Đối với cha mẹ mà quên thì cầu thành Phật, cầu giải thoát, e rằng chưa được. Vì sao? Vì ngài Mục Kiền Liên đã chứng A la hán rồi mà còn chưa quên công ơn của mẹ, huống nữa chúng ta là phàm Tăng phàm Ni, lại không nhớ không kể gì đến ân cha mẹ, đó là một điều thiếu sót không thể chấp nhận được.

Vì vậy ngày Lễ Vu lan vừa là lễ Phật, lễ Bồ tát, lễ A la hán tức ngài Mục Kiền Liên, mà cũng là một ngày gợi nhắc lại cho chúng ta tinh thần cao đẹp của tổ tiên mình. Chúng ta phải nhớ ngày Lễ Vu lan có ý nghĩa trọng đại như thế, chớ không phải tới ngày này chỉ cầu nguyện cho ông bà siêu sanh Tịnh độ thôi, mà chúng ta luôn nghĩ tới bổn phận làm con đối với cha mẹ. Nghĩ đến tình thương cha mẹ đối với chúng ta như thế nào để cố gắng tu hành, cố gắng đền trả công ơn lớn lao của cha mẹ. Như vậy mới xứng đáng là người con Phật, cũng xứng đáng là người Phật tử Việt Nam.

Nhiều người đặt câu hỏi, tại sao ngài Mục Kiền Liên đã tu chứng lục thông, có thể đến được chỗ của mẹ ở trong cõi ngạ quỷ đói khát, mà không dùng thần thông cõng mẹ chạy lên cõi Trời cho sung sướng? Tại sao thấy cảnh mẹ khổ rồi khóc trở về, không làm gì được? Đó là một vấn đề cần phải hiểu rõ. Trong nhà Phật có câu “Thần thông bất năng địch nghiệp”, nghĩa là thần thông không thể diệt được định nghiệp. Nghiệp đã nhất định rồi, dù có thần thông cũng không đổi dời được.

Như trường hợp Đức Phật khi đã đắc quả rồi, dòng họ Thích bị vua Lưu Ly cử binh sang đánh. Đức Phật nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, cuối cùng Phật cũng đành chịu để vua Lưu Ly chém giết dòng họ Thích Ca. Như vậy để thấy khi định nghiệp có rồi thì khó cải đổi được. Đức Phật không cứu được dòng họ cũng như ngài Mục Kiền Liên không cứu được mẹ, dù là có thần thông. Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy rõ thần thông không chuyển được định nghiệp của người khác.

Trong nhà thiền thì xem thường thần thông lắm. Như tổ Hoàng Bá ở Trung Hoa, ngài lên núi Thiên Thai vào mùa mưa, khi xuống núi gặp một vị Tăng, cả hai kết bạn cùng đi. Đi một đỗi gặp dòng suối lớn, nước chảy mạnh, đằng xa có một con thuyền. Vị Tăng cùng đi bảo “huynh đi qua đi”, ngài Hoàng Bá nói “huynh qua được thì cứ qua trước”. Vị Tăng nọ liền vén áo, đi thật nhanh trên mặt nước qua bờ bên kia. Ngài Hoàng Bá dùng thuyền qua sau. Đến bờ bên kia, người bạn đồng hành cười ra vẻ xem thường ngài không có thần thông.

Ngài hỏi: - Huynh tập bao lâu mới được thần thông?

Đáp: - Ba mươi năm.

Ngài Hoàng Bá nói: - Công của huynh tập ba mươi năm, giá đáng hai xu thôi.

Vì bỏ ra ba mươi năm để có thần thông đi qua dòng suối, trong khi thiền sư chỉ cần tốn hai xu qua đò là xong. Nên ngài nói công tập ba mươi năm chỉ đáng giá hai xu! Như vậy để chúng ta hiểu đạo Phật trọng tu hành chuyển nghiệp hơn là thần thông. Bởi vì nghiệp mình tạo sẽ chuốc quả khổ, người khác có thần thông không cứu được. Muốn hết nghiệp phải chuyển từ lúc ban đầu, chớ không phải luyện tập thần thông mà được.

Nghiệp của bà Thanh Đề, mẹ ngài Mục Kiền Liên là nghiệp gì? Bỏn xẻn là một phần nhỏ, lớn hơn là lòng hiểm ác. Từ nghiệp hiểm ác bỏn sẻn mà đọa vào kiếp ngạ quỷ, làm quỷ đói. Đã đọa rồi thì phải chịu quả, dù con mình có thần thông cũng không cứu được. Cho nên biết thần thông không chuyển được nghiệp, chỉ tu mới chuyển được thôi. Đó là giải đáp thắc mắc về vấn đề thần thông.

Còn một vấn đề nữa, sau khi ngài Mục Kiền Liên về, trình lên Phật nỗi đau khổ vì thấy mẹ đói, Ngài đem cơm cho mẹ ăn mà bà ăn không được. Ngài muốn cứu mẹ, không làm sao cứu được. Phật mới dạy Tôn giả thỉnh chư Tăng cầu nguyện cho mẹ Ngài chuyển kiếp ngạ quỷ. Sau khi tổ chức Lễ Vu lan rồi, chư Tăng thọ trai xong, đồng thời nguyện cầu cho bà chuyển được tâm niệm ác độc trở thành tâm niệm lương thiện. Nương nơi sức cầu nguyện của chư Thánh tăng, bà chuyển được tâm xấu ác thành tâm thiện lành, liền sanh lên cõi Trời. Nhân đó, người ta đặt câu hỏi đạo Phật nói nhân quả, tạo nhân nào thì chịu quả nấy, tại sao cầu nguyện liền mất hết quả cũ. Như vậy lý nhân quả nằm ở chỗ nào? Đó là một vấn đề.

Quý Phật tử nên biết không phải chư Tăng tụng kinh cầu nguyện, liền đó bà Thanh Đề được sanh về cõi Trời. Hương linh của người chết đọa vào kiếp ngạ quỷ, họ sống, họ ăn bằng cái tưởng. Chúng ta cúng cô hồn gồm muối, gạo, cơm cháo…, cúng rồi còn hay hết, cúng rồi còn nguyên. Như vậy rõ ràng do tâm tưởng, họ ăn được no. Họ ăn bằng cái tưởng nên họ sống bằng tâm tưởng nhiều hơn sống bằng cái thực. Vì thể xác của họ không nặng nề như mình, mà nhẹ nhàng như bóng như gió vậy. Do sống bằng tâm tưởng nên khi chuyển tâm tưởng lại thì liền đó thoát khổ. Khi chư Tăng nguyện lành cho bà, bà thức tỉnh chuyển tâm hiểm ác keo kiệt trở thành tâm lương thiện, liền sanh cõi Trời. Như vậy không phải chư Tăng có khả năng đưa bà lên cõi Trời, mà do bà chuyển được tâm niệm nên sanh về cõi Trời.

Lúc trước bà chết, tâm hiểm ác keo kiệt dẫn bà đi vào cõi Ngạ quỷ. Thế thì quý Phật tử nhất là những vị lớn tuổi cần phải đề phòng. Chúng ta khi ra đi sẽ theo tâm tưởng mà thác sanh. Tưởng lành tưởng ác sẽ dẫn mình đi vào đường lành đường ác. Do đó nhà chùa hay tổ chức lễ cầu nguyện cho người sắp lâm chung, chư Tăng chư Ni hoặc huynh đệ Phật tử tới hộ niệm để làm gì? Bởi vì khi chúng ta sắp xả thân, thể xác này đau đớn khổ sở vô kể, vì lo đau đớn nên quên niệm lành. Bây giờ muốn được niệm lành phải có sự trợ lực của chư Tăng chư Ni hoặc huynh đệ, cùng đọc lên những lời dạy của Phật tức là đọc kinh, để mình nhớ lại Phật mà quên những niệm xấu. Nhờ nhớ Phật, quên niệm xấu nên nhắm mắt mình đi đường lành. Đó là ý nghĩa quan trọng của người trợ niệm.

Chúng ta khi còn khỏe mạnh tỉnh táo nghĩ tới điều lành, nghĩ tới lời Phật dạy không khó. Nhưng lúc đau đớn khổ sở, thân thể bức ngặt quá, thật là khó nhớ. Cho nên bây giờ chúng ta ráng tu, ráng gìn giữ tâm tư trong sáng. Những tâm tư trong sáng đó giúp mình khi bức bách không bị quên, không bị xao lãng, nếu không tu như vậy tới chừng đó chúng ta không thể chuyển kịp. Nhiều người khi sống cũng làm đôi ba việc thiện, nhưng khi chết đau khổ quá, ai làm trái ý liền nổi giận lên. Chính cái giận đó sẽ dẫn họ đi vào đường ác, gọi là cận tử nghiệp, cái đó hết sức hệ trọng. Quý Phật tử nghĩ đến sự tu thì ráng tập tâm tư của mình luôn luôn trong sáng. Khi gần nhắm mắt được chư Tăng chư Ni hoặc các Phật tử giúp cho, mình cố gắng thêm quên cái đau đớn, chỉ nhớ Phật, đó là duyên tốt để đi đường lành. Người thân cũng nên nhớ đừng gây phiền hà buồn bực làm cho thần thức kẻ sắp lâm chung đi vào đường khổ.

Bởi vậy tinh thần hiếu thảo của Phật tử là phải quý trọng giờ lâm chung của cha mẹ, đem hết lòng thành kính thỉnh mời chư Tăng chư Ni tới để trợ lực giúp cho cha mẹ tỉnh táo, nhớ được điều lành. Đây là việc hết sức thiết yếu. Phật tử nhớ chúng ta tu là làm sao cho hiện đời được an lạc, khi nhắm mắt đi trên đường lành. Đó là người biết lo xa, chuẩn bị trước, không phải tu chỉ để được phước. Được phước mà tâm còn tối tăm, xấu xa thì phước chưa đủ để đưa mình tới chỗ lành.

Như chúng ta thấy có nhiều con chó sướng hơn con người, phải không? Nó được cưng được quý, trong khi nhiều con người sống lang thang rất khổ sở. Bây giờ đặt câu hỏi ngược lại, có phước mới được làm người, vô phước mới làm súc sanh, tại sao đã làm súc sanh mà sướng hơn người? Đó là một vấn đề chúng ta cần phải hiểu rõ. Bởi vì người vừa làm phước vừa tạo tội nên sanh có quả không cố định được. Ví như người đi ăn trộm được tiền nhiều, họ đem cúng chùa một phần, hưởng một phần. Như vậy một bên làm tội một bên làm phước. Có tội thì phải đọa, nhưng làm phước thì hưởng phước. Cho nên tuy tội đọa làm súc sanh mà vẫn hưởng được phước sung sướng. Phật tử tu làm sao để vừa được làm người, vừa có phước nữa, chớ đừng có phước mà không được làm người, uổng lắm. Hiểu rõ như vậy chúng ta sẽ không thắc mắc về thân phận và quả phước khác nhau của chúng sanh.

Quý vị tu hành không phải chỉ làm phước thôi mà ráng chuyển tâm của mình làm sao cho tốt, cho thanh tịnh sáng suốt. Đó mới là gốc của sự tu. Phước để bổ túc thêm khiến cho chúng ta có mặt ở đâu đều được an vui, sung sướng, dễ tu. Trong nhà Phật thường gọi là phước tuệ song tu. Tuệ là trí tuệ để chiếu soi làm cho xấu xa suy giảm, rồi sau đó tu phước nữa thì mới được hưởng đầy đủ. Đó là nói sơ lược qua về ý nghĩa của tinh thần kinh Vu Lan trong nhà Phật.

HT.THÍCH THANH TỪ

Nguồn: Blog ThoKao.

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Duyên Anh & tác phẩm



Duyên Anh
Duyên Anh (1935 - 1997)
Duyên Anh sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại Thái Bình Bắc việt mất ngày 6 tháng 2 năm 1997 tại Paris, Pháp (nhằm ngày 29 tết). Ông đã xuất bản năm mươi tác phẩm văn chương. Năm 1975, bị coi như "một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của Việt Nam", chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung. Ông được tự do nhờ Amnesty International và Pen Club International can thiệp. Vượt biển sang Pháp, ông viết lại và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư đại học Sorbonne, nhà văn lừng danh coi Duyên Anh là "nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia". Chưa một người Việt Nam nào tạo nổi sự vinh dự cho dân tộc ở tư thế lưu vong như Duyên Anh. Tự tin vào tài năng và sự phấn đấu của chính mình, ông đã bước lên mọi nghịch cảnh, bước qua mọi oan khiên để giành một chỗ đứng trên vũ trụ văn học quốc tế như một tiểu thuyết gia đầy đủ tư cách.

TÁC PHẨM:
Hoa Thiên Lý (Tập truyện ngắn 1963)
Thằng Vũ (Truyện dài 1963)
Điệu Ru Nước Mắt (Truyện dài 1963)
Ảo Vọng Tuổi Trẻ (Truyện dài 1964)
Giấc Mơ Một Loài Cỏ - Luật Hè Phố 1 (Truyện dài 1965)
Con Suối Ở Miền Đông - Luật Hè Phố 2 (Truyện dài 1965)
Dzũng Đakao (Truyện dài 1965)
Chương Còm (Truyện dài 1965)
Dấu Chân Sỏi Đá (Truyện dài 1966)
Sa Mac Tuổi Trẻ (Truyện dài 1966)
Kẻ Bị Xóa Trong Sổ Bụi Đời (Tập truyện ngắn 1966)
Cỏ Non (Tập truyện ngắn 1967)
Gấu Rừng (Truyện dài 1967)
Mây Mùa Thu (Truyện dài 1967)
Ngày Xưa Còn Bé (Truyện dài 1967)
Trần Thị Diễm Châu - Châu Kool (Truyện dài 1967)
Vết Thù Hằng Trên Lưng Con Ngựa Hoang (Truyện dài 1967)
Năng Nợ Giang Hồ (Truyện dài 1967)
Bồn Lừa (Truyện dài 1967)
Chính Trị Giao Chỉ - Thương Sinh (Phóng sự 1967)
Đầm Giao Chỉ - Thương Sinh & Gã Thâm (Phóng sự 1967)
Rồi Hết Chiến Tranh (Truyện dài 1968)
Ánh Mắt Trông Theo (Truyện dài 1968)
Thằng Côn (Truyện dài 1968)
Trường Củ (Truyện dài 1968)
Đi Tàu Suốt - Thương Sinh (Phóng sự 1968)
Yêu-Tiền - Thương Sinh & Gã Thâm (Phóng sự 196?)
Ánh Lửa Đêm Tù (Tập truyện ngắn 1969)
Cầu Mơ (Truyện dài 1969)
Mơ Thành Người Quang Trung (Truyện dài 1969)
Tuổi Mười Ba (Truyện dài 1969)
Mặt Trời Nhỏ (Truyện dài 1969)
Tuyển Truyện Duyên Anh (Tập truyện ngắn 1970)
Nhà Tôi (Truyện dài 1970)
Lứa Tuổi Thích Ô Mai (Truyện dài 1970)
Đàn Bà (Truyện dài 1970)
Tên Một Loài Hoa Quê Hương (Truyện dài 1970)
 Giặc Ôkê (Truyện dài 1971)
Hưng Mập Phiêu Lưu (Truyện dài 1971)
Ngựa Chứng Trong Sân Trường (Truyện dài 1971)
Nước Mắt Lưng Tròng (Truyện dài 1971)
Áo Tiểu Thư (Truyện dài 1971)
Con Thúy (Truyện dài 1972)
Phượng Vĩ (Truyện dài 1972)
Thằng Khoa (Truyện dài 1972)
Về Yêu Hoa Cúc (Truyện dài 1972)
Thư Tình Trên Cát (Truyện dài 1972)
Bò Sửa Gặm Cỏ Cháy (Tâm bút 1972)
Hạ Ơi (Truyện dài 1973)
Đêm Thánh Vô Cùng (Tập truyện ngắn 1973)
Cám Ơn Em Đã Yêu Anh (Truyện dài 1974)
Hôn Em Kỷ Niệm (Truyện dài 1974)
Cây Leo Hạnh Phúc (Truyện dài 1974)
Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần (Tập truyện ngắn 1975)
Đồi Fanta (Truyện dài 1982)
Sỏi Đá Ngậm Ngùi (Truyện dài 1985)
Một Người Tên Là Trần Văn Bá (Truyện dài 1985)
Bầy Sư Tử Lãng Mạng (Truyện dài 1986)
Một Người Nga ở Sài Gòn (Truyện dài 1986)
Thơ Tù (Thơ 1987)
Nhánh Cỏ Mộng Mơ (Truyện dài 1987)
Quán Trọ Trước Cổng Thiên Đường (Truyện dài 1987)
Nhà Tù (Hồi ký 1987)
Trại Tập Trung (Hồi ký 1987)
Sài Gòn Ngày Dài Nhất (Hồi ký 1988)
Nhìn Lại Những Bến Bờ (Hồi ký 1989)
Em, Tôi, Sàigòn và Paris (Thơ 1989)
Ngược Giòng Chữ Nghĩa (Tâm bút 1991)
Ca Dao Quyện Lấy Miếng Ngon Dân Tộc : Nấu Nướng Dân Gian (Tâm bút 1995)
Về Với Ca Dao (Tâm bút 1995)
Vỡ Lòng Ca Dao (Tâm bút 1995)
Những Đứa Trẻ Con Mỹ Hẩm Hiu (Truyện dài 1995)
Hồn Say Phấn Lạ (Truyện dài 1996)
Tuổi Bướm Sầu (Truyện dài chưa xuất bản)

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Hồi ký của một thiếu nữ Bắc Triều Tiên : 9 năm để thoát khỏi địa ngục


Trang bìa cuốn sách của Eunsun Kim
Trang bìa cuốn sách của Eunsun Kim

Trọng Thành
Ngày 8 tháng Ba 2012, nhà xuất bản Pháp Michel Lafon vừa cho ra mắt cuốn tự thuật của một thiếu nữ Bắc Triều Tiên, kể về con đường khổ ải gần một thập kỷ dẫn cô thoát khỏi miền Bắc Triều Tiên. Cuốn tự thuật của cô Eunsun Kim, mang tên « Bắc Triều Tiên : Chín năm để thoát khỏi địa ngục ». Tác phẩm này được thực hiện với sự hỗ trợ của nhà báo Pháp Sébastien Faletti, thông tín viên của Le Figaro tại Seoul từ 15 năm nay.

Khác với nhiều người cố tình chôn vùi ký ức đau đớn, người thiếu nữ Triều Tiên Eunsun Kim quyết định kể lại cuộc chạy trốn kinh hoàng cách đây hơn 10 năm, để thoát khỏi một trong những xứ sở tàn bạo nhất thế giới. Eunsun Kim muốn làm sống lại quá khứ đau đớn mà cô đã trải qua, để chuyển đến cộng đồng quốc tế một thông điệp : có một đất nước như Bắc Triều Tiên, nơi mà vẫn luôn luôn có nhiều người chết vì đói, và những người muốn chạy trốn.

Than bán dạo





Duy Thức/Người Việt



 Bỗng nhiên giá gaz đã tăng vũ bão.
Trước kia dân thành phố đun nấu bằng bếp dầu hôi hay lò củi. Các bà nội trợ mua củi thước tức là củi chặt khúc xếp ngang một thước, cao một thước. Khi mang về phải có khi phải thuê người chẻ nhỏ ra mới dùng được. Sau này một phần đun củi khói dữ quá, một phần không còn nhiều gỗ tạp làm củi nữa nên dân thành phố xoay qua dùng bếp điện, bếp dầu hôi.
Bếp điện hay bị cháy dây may so, bếp dầu hôi xông mùi dầu quá nên dần dần dân thành phố chuộng bếp ga. Mặc dù thường xảy ra nhiều vụ cháy nổ gây chết người, nhất là bếp ga mini dùng nhiều lần hay các cơ sở sang chiết ga lậu không an toàn, bếp ga vẫn ngày càng thông dụng. Ngay cả miền quê, để bếp nước sạch sẽ hơn, nhiều gia đình cũng dùng bếp ga thay vì bếp củi, bếp trấu cổ truyền, mặc dù những nguyên liệu rẻ tiền này có sẵn chung quanh.


Xe chở than bán dạo trên đường phố Sài Gòn. (Hình: Duy Thức/Người Việt)

Khi mọi người đã quen với bếp ga thì ga tăng giá. Năm ngoái ga tăng từng tháng. Trong một thời gian ngắn từ Tết Tây đến giờ, ga tăng giá bốn lần, tăng 100,000 đồng và chỉ một lần hạ giá... 10,000 cho vui. Hiện nay giá 477,000 tức gần nửa triệu đồng cho một bình ga mười hai ký.
Giá ga tăng khiến đa số gia đình không kham nổi, thói quen đun nấu phải thay đổi. Vì thế mọi người lại quay sang các loại bếp khác.

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

NGÀY XUÂN, ĐỌC LẠI BÀI THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG GỬI NGUYỄN DU




Thạch Quỳ

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không!
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong!
Biết còn mảy chút sương đeo mái ?
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong!

Bài thơ này có tên là “Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyễn hầu”
(Nhớ người cũ,viết gửi cần chánh học sĩ Nguyễn hầu). Hồ xuân Hương còn cẩn thận ghi thêm một giòng chú thích “Hầu,người làng Tiên Điền, huyện Nghi xuân”. Ông họ Nguyễn làm quan, giữ chức Cần chánh học sĩ có tước hầu, lại là người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân thì chắc chắn đấy là Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều được Gia Long ban tước “Du-Đức hầu” vào năm 1810, chứ không thể ai khác! Năm 1810, Nguyễn Du đang làm Cai bạ ở Quảng bình, Gia Long gọi về kinh thăng chức” Cần chánh học sĩ” và phong tước hầu. Hồ xuân Hương nghe “tin mừng”đó, lòng đầy cảm xúc, xốn xang chuyện cũ nên viết bài thơ này mong gửi tới “người xưa”. Bài thơ nói “Chữ tình chốc đã ba năm vẹn” tức là mối tình của hai người đã nẩy nở dan díu vào quãng 1806-1807, khi Nguyễn Du làm tri phủ Thường tín ở ngoài Bắc,lúc bấy giờ Nguyễn Du trên dưới 40 tuổi và Hồ xuân Hương trên dưới 30 tuổi, họ cách nhau xấp xỉ 10 tuổi. Vậy là đến 1810, Hồ xuân Hương quãng 33 tuổi hãy còn ở “Cổ nguyệt đường” tại phường Khán xuân, có lẽ mẹ đã mất, một mình một bóng, chưa có mối tơ duyên nào khác, ngoài mảnh tình xưa mà nay thì “Dặm khách muôn ngàn nỗi nhớ nhung”. Đọc bài thơ ta thấy lòng nàng cô đơn, cô quạnh pha chút hờn dỗi, tủi thân, người thì “Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập” ta thì “Phấn son càng tủi phận long đong”! Và cái chữ tình “chốc đã ba năm vẹn” đó nay đã hoá thành “Giấc mộng rồi ra nửa khắc không”!
Biết còn mảy chút sương đeo mái…

NÉN NHANG NGÀY XUÂN



TS HUỆ DÂN

 

Cây nhang được xem như một sợi dây thiêng liêng nối liền giữa cuộc sống con người và ông bà tổ tiên, thần thánh, đất trời, qua những làn khói hương cuộn tròn của nó, phảng phất, rồi tan dần trong không gian. Từ khi người con người tìm ra lửa và biết cách sử dụng nó trong cuộc sống, thì cây nhang cũng là một trong những phát minh từ cách biết dùng lửa mà ra. 

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

Xuân -Quê Hương và Mẹ


 
Animation20TET.gif picture by ntp-album
 
Những ngày mùa đông lạnh lẽo rồi cũng trôi qua và cánh cửa mùa Xuân dang từ từ hé mở,vạn vật dều mừng vui .những bông hoa khoe nhau vươn mình đủ màu trong nắng ấm .
Nhà nhà nao nức,tất cả những mặt hàng bánh chưng,bánh tét ,giò chả,đủ các loại bánh mứt đều được bán ở chợ,thêm vào đó những chậu hoa đủ màu,đủ loại thật đẹp làm rạo rực lòng người mong chờ,đón một năm mới an lành với những ước mơ thành toàn.
Những phong bao lì xì in hình chữ phước thật đẹp,thật dễ thương khiến lòng rạo rực của một thời .
Mùi khói ,mùi bánh chưng của những đêm cuối năm,những chiếc bánh chưng đuợc bàn tay Mẹ  gói  khéo léo,đám nhỏ chạy tung tăng bên bếp lửa hồng thỉnh thoảng lại hỏi Mẹ :
Mẹ ơi ! bánh chưng sắp xong chưa Mẹ
Càng về khuya mùi hương càng toả ra nơi góc phố quê hương làm ngây ngất ....
Những ngày dầu năm trong chiếc áo đầm mới  tung tăng theo Mẹ đi chúc tết lòng thật mừng vui với nhừng phong bao lì xì cứ dầy thêm,rồi theo bạn bè đùa vui  trên đường phố .

Xuân- Quê Hương và Mẹ  là cái gì thật vĩnh cửu .

Những ngày Xuân trên quê hương là những ngày thật hạnh phúc .Bàn tay Mẹ thật tuyệt vời ,chỉ với hai bàn tay bé nhỏ Mẹ đã làm nên những món ăn thật là ngon  nào là gà luộc,miến gà,chả giò thịt đông ,dưa chua,dưa món,chỉ nghĩ đến thôi là  đã nuốt nước miếng rồịCả nhà quây quần cùng nhau thắp hương cho Ông Bà và Ba.sau đó,cả bọn trẻ cứ nhao nhao đòi tiền lì xì ,tiếng cười nói ,cái không khí ấm cúng là dường nào  .
 
Xuân tha hương lòng mang nhiều nỗi nhớ
Nhớ Mẹ già và nhớ cả trời quê
Nhớ quê hương ngàn hoa đua tranh nở
Nhớ phố phường rộn rã tiếng cười vui... 

Đêm giao thừa cùng bạn bè đi hái lộc Ngày đầu xuân ấm cúng cảnh gia đình Phược -Lộc -Thọ cung chúc Mẹ ân tình
Mâm cỗ tết hương lòng lên rộn rã...
 
 
 
 
 
  
 
 
 ...Hơn hai mươi năm tha hương ,cho dù Xuân nơi xứ người có nhộn nhịp như thế nhưng lòng người vẫn có những vương vấn nhớ về quê hương .Xuân trên quê hương có những sắc thái đặc biệt đó chính là hồn quê hương,nó đã ăn sâu vào trong lòng người  khiến cho những người tha hương đều mang nhừng kỷ niệm nhớ thương về quê nhà .
 

Xuân ngày ấy làm sao mà tìm được
Bóng thời gian mờ xóa nét hư hao
Nhưng lòng sao vương vấn mãi hôm nào
Nghe trĩu nặng cành mai vàng nhung nhớ

Nàng Xuân đang mỉm cười cùng với ông mặt trời làm  không khí trở lên dịu êm hơn,thế nhưng lòng sao vẫn thấy trống vắng một cái gì ...???Phải chăng dó là hồn dân tộc .
Thế mới biết lòng người không thể xa lìa nơi chôn nhau cắt rún .
 
Xuân,
Mẹ và Quê Hương...
 Nghe nhớ  thương nhớ quá.
Đến bao giờ mới không còn bến bờ . Không còn sân ga...
 
Xuân đất khách cũng đì đùng pháo nổ
Cũng hoa vàng bánh mứt chất đầy mâm
Hạt dưa- đưa tí tách cắn đều tay
Nhưng vẫn thiếu cả hồn quê yêu dấu

dtm (Xuân nhớ Quê Hương )
 
 
 
 
Nguồn giaiphamxuannoitruqgnt/

Tết Miền Tây

Mai vàng khoe sắc
    Năm hết xuân về, người dân miền Tây lại tất bật chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán trong cái se lạnh của tiết trời và rộn ràng, náo nức của lòng người. Những ngày cuối năm Âm lịch, không khí đón Tết tràn ngập từng thôn xóm. Người người, nhà nhà bắt tay vào chuẩn bị các thứ để đón chào năm mới. Dọn dẹp lại nhà cửa, mua sắm các thứ để dùng trong những ngày Tết, chuẩn bị các loại bánh mứt truyền thống,… là những công việc quen thuộc mỗi năm vào những ngày giáp Tết.
    Không khí Tết bắt đầu từ giữa tháng Chạp Âm lịch, đặt biệt là từ sau ngày Hai mươi ba, ngày làm cỗ tiễn Ông Táo về trời. Đó là ngày Ông Táo tổng kết những công việc của các thành viên gia đình trong một năm đã qua để về “tâu” với Ngọc Hoàng theo quan niệm của người Á Đông. Vào ngày này, mỗi nhà đều làm một mâm cỗ để tiễn Táo Quân về trời, và nếu ở miền Bắc, người dân có tục thả cá chép, ở miền Trung người dân cúng một con ngựa bằng giấy với đầy đủ yên cương thì ở miền Tây, giản dị hơn, người ta cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy.

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Tuổi Trẻ…già và thất học?


Quay lưng với đồng loại.

Thấy nhiều bác trong blog cũng cao tuổi, HM Blog xin chép mấy  lời khuyên nhằm giữ gìn sức khỏe như sau:
Không nên tập luyện vào lúc sáng sớm, đang ngủ không nên trở dậy vội vàng, không nên ngoái đầu một cách đột ngột , không nên đứng co một chân để mặc quần, không nên quá ngửa cổ về phía sau, không nên thắt dây lưng quá chặt, khi đi đại tiện không nên rặn quá mức, không nên xúc động.


Đặc biệt, không nên nói nhanh, nói nhiều. Một số nhà khoa học Mỹ phát hiện khi nói chuyện bình thường, dù chỉ là chuyện vui nhẹ nhàng, các tế bào trong cơ thể vẫn chịu tác động và ảnh hưởng tới huyết áp.

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Khi bà tiến sĩ Hội phụ nữ Việt Nam ca bài ca luân lý



Người cùng kh (danlambao) - “Ở bất cứ xã hội nào, phụ nữ làm nghề mại dâm đều bị coi là loại người xấu xa, mạt hạng…bị xã hội, gia đình, người thân coi khinh, dư luận xã hội lên án... Gái bán dâm sẽ không biết xấu hổ khi cần tiền...” - đồng chí tiến sĩ chủ tịch Hội Phụ nữ Nguyễn Thị Mai Hoa.
*
Mới đây báo chí đưa tin tại Hội nghị tập huấn về công tác phòng chống tệ nạn mại dâm được tổ chức tại Hà Nội, bà tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hoa, phó trưởng Ban Tuyên giáo thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã phát biểu trước báo giới nêu rõ quan điểm của mình về tệ nạn mại dâm. 
“Tinh thần” chung trong bài phát biểu của bà tiến sĩ Hoa là cực lực lên án các cô gái bán dâm, xem đó là hình ảnh mang lại nỗi nhục quốc thể, là nguyên nhân dẫn đến đất nước suy nhược: “Mại dâm là nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, làm xấu đi hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Mại dâm vẫn là rào cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây bất ổn về trật tự chính trị - xã hội”.